Cần Thơ có gì?

Cần Thơ – Một thành phố lớn nhất khu vực Miền Tây Đồng Bằng Nam Bộ. Đây là điểm dừng chân lý tưởng cho những ai muốn khám phá khu vực miền Tây sông nước. Nơi đây từ lâu nổi tiếng với vẻ đẹp sông nước hiền hòa, con người mến khách. Ngoài ra, nơi đây còn là mảnh đất địa linh nhân kiệt, phong thủy hữu tình, là điểm giao thoa, hội tụ của nhiều nền văn hóa nên có nhiều di tích lịch sử tiêu biểu. Cần Thơ có gì? Hãy cùng chúng tôi khám phá những địa điểm di tích, thắng cảnh đẹp tại Cần Thơ trong bài viết sau đây nhé.

1 Chợ nổi Cái Răng – Cần Thơ

Chợ nổi Cái Răng nằm ở phía hạ lưu sông Cần Thơ, cách cầu Cái răng khoảng 600m với diện tích mặt nước khá rộng lớn, thuận lợi cho hoạt động của chợ nổi: chiều rộng chiếm luồng ngang sông trung bình 100-120m, chiều dọc sông khoảng 1300-1500m; diện tích mặt nước tương đối rộng nằm trên địa bàn quận Cái Răng với khoảng 300-400 ghe họp chợ mỗi ngày.

Chợ nổi Cái Răng - Cần Thơ
Chợ nổi Cái Răng – Cần Thơ

Hình thức chào hàng khá độc đáo ở chợ nổi Cái Răng là sử dụng cây bẹo. Người bán loại hàng nông sản nào thì treo loại hàng đó lên một cây sào trên ghe để chào hàng. Những loại hàng hóa được bày bán trên ghe, thường thì mỗi ghe sẽ chuyên bán một loại mặt hàng. Trước mỗi ghe hàng, thường có một cây xào chống, trên đó treo loại mặt hàng mà ghe có. Ví dụ như, nếu ghe chuyên bán khoai lang thì trên cây xào sẽ treo lủng lẳng vài củ khoai, còn nếu ghe bán xoài thì trên cây xào sẽ có treo vài quả xoài như thể muốn người mua biết rằng “Ở đây có bán khoai” hoặc “Ở đây có bán xoài”. Những ghe như thế gọi là ghe bẹo.

Chợ nổi Cái Răng thường họp khá sớm, thường từ lúc mờ sáng và đến khoảng 8, 9 giờ thì vãn. Ngày xưa, người dân thường dùng xuồng ba lá, xuồng năm lá, ghe tam bản để về họp chợ nổi. Bây giờ có cả tắc ráng, ghe máy. Người đi mua cũng đến chợ bằng xuồng, ghe. Người chèo xuồng như nghệ sĩ uốn dẻo với cây chèo điều khiển những chiếc xuồng con len lỏi khéo léo giữa hàng trăm ghe thuyền mà không hề va quệt. Người miền Nam vốn chân chất, dân thương hồ trên sông nước miền Tây còn chân chất và đáng yêu hơn. Bởi họ phải vất vả mưu sinh trên sông nước hàng ngày, nên họ sống với nhau bằng cái tình của sông, của nước mênh mông và cởi mở. Không cố gắng tranh giành phần thắng, mà lựa nhau, nhìn nhau mà đi, lựa nhau mà bán, nhường nhịn, giúp đỡ, chia sẻ nhau mà sống. Đó là văn hóa tình người, điều làm nên sự đặc sắc của văn hóa chợ nổi Cái Răng.

Chợ nổi Cái Răng - Cần Thơ
Chợ nổi Cái Răng – Cần Thơ

Chợ đông nhất là vào khoảng 7- 8 sáng. Chợ không hoạt động và hoạt động rất ít vào các ngày Tết Âm Lịch (mồng 1 và mồng 2 Tết, Tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng Năm âm lịch). Do nhu cầu của người đi chợ nên không chỉ có các xuồng trái cây, nông sản phẩm mà còn có nhiều loại dịch vụ khác: phở, hủ tiếu, cà phê, quán nhậu nổi… Các xuồng dịch vụ (thường là thuyền nhỏ) len lỏi phục vụ khách đi chợ và cả khách tham quan.

Sức hút của chợ nổi Cái Răng đối với thập khách chính là giữ gìn và phát huy được nét đặc trưng vùng sông nước và sự tươi ngon của hàng hóa nơi đây, thấy tâm hồn mình rộng mở và khoáng đạt hơn, cảm nhận được sự khác biệt của cuộc sống nơi đây, thấy được sự chân thành, giản dị và hiếu khách hiếm có của những con người vùng sông nước miền Tây nói chung.

Không chỉ giữ gìn được nét đẹp văn hóa vùng sông nước, ngày nay chợ nổi như một điểm du lịch hấp dẫn mà du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài rất thích khám phá và trải nghiệm. Cứ năm chiếc xuồng vào chợ thì có đến bốn chiếc chở người ngoại quốc, họ tỏ ra hiếu kì và thích thú từ khung cảnh đến con người miền sông nước, thậm chí đến cả câu rao hàng ngọt như “ mía lùi” của những cô gái Tây Đô.

Chợ nổi Cái Răng - Cần Thơ
Chợ nổi Cái Răng – Cần Thơ

Không gian chợ nổi Cái Răng còn là điểm đến hấp dẫn, mang sắc thái địa phương, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước, nâng cao đời sống cộng đồng chủ thể di sản và góp phần phát triển kinh tế – xã hội cho địa phương. Ngày nay, dù mạng lưới giao thông đường bộ đã phát triển rộng khắp nhưng Chợ nổi Cái Răng vẫn tồn tại và phát triển. Địa điểm họp chợ nằm trên tuyến giao thông đi các tỉnh ở phía tây sông Hậu như Cà Mau – Rạch Giá. Đồng thời, nơi này không xa dòng sông Hậu, con đường giao thông thủy liên vùng và quốc tế, cho nên Chợ nổi Cái Răng là nơi hội tụ của dân thương hồ khắp nơi đổ về, tạo nên sắc màu văn hóa đa dạng trên chợ nổi.

Không gian văn hóa chợ nổi Cái Răng tích hợp nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể: tập quán xã hội và tín ngưỡng, tri thức dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian (đờn ca tài tử)… và những di sản này vẫn đang được gìn giữ và lưu truyền. Mặc dù có sự tiếp biến nhưng nhìn chung vẫn còn khả năng duy trì và phát triển.

Với những giá trị đặc sắc về văn hóa và kinh tế của chợ nổi Cái Răng, Tạp chí du lịch Rough Guide (Anh) đã bình chọn Chợ nổi Cái Răng là một trong 10 khu chợ ấn tượng nhất thế giới, mô tả là điểm đặc biệt lạ mắt với các thuyền bán hàng “rực rỡ sắc màu nhiệt đới”. Trang web youramazingplaces cũng đưa ra danh sách 6 chợ nổi đẹp nhất châu Á, trong đó có đề cập đến chợ nổi của khu vực ĐBSCL, mà chợ nổi Cái Răng là một điển hình. Văn hóa Chợ nổi Cái Răng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 829/QĐ-BVHTTDL ngày 10/3/2016.

2 Bến Ninh Kiều – Cần Thơ

Cần Thơbến Ninh Kiều Có dòng sông đẹp với nhiều giai nhân”.. Tọa lạc ngay trung tâm thành phố Cần Thơ, bến Ninh Kiều thơ mộng, sông nước hữu tình được coi như một điểm đến đặc trưng của bất kì du khách nào khi đến với thành phố này.

Bến Ninh Kiều - Cần Thơ
Bến Ninh Kiều – Cần Thơ

Có một vị trí đắc địa, nằm ngay giữa ngã ba sông Hậu và sông Cần Thơ thuộc quận Ninh Kiều, gần ngay trung tâm thành phố Cần Thơ. Bến Ninh Kiều được hình thành từ thế kỷ 19 là một bến sông gần chợ Cần Thơ. Đây là một điểm đến tham quan, du lịch không thể bỏ qua khi đến thành phố Cần Thơ. Tại bến Ninh Kiều bạn có thể ngắm nhìn dòng sông Hậu hiền hòa nặng đỏ phù sa, ngắm những chiếc thuyền ghe do các chị, cô chú, các mẹ khua chèo chở những sản vật ra chợ nổi Cái Răng buôn bán.

Giữa Bến Ninh Kiều có một tượng Bác Hồ rất lớn, gây choáng ngợp cho du khách đi ra. Công viên khá dài, đi khoảng 30p mới hết công viên được, ngoài ra còn có 1 thứ nữa rất thu hút khách đó chính là cầu đi bộ và ngoài ra còn có du thuyền cho khách có thể đi trên sông, vừa ngắm cảnh vừa thưởng thức đồ ăn.

Bến Ninh Kiều, nay được gọi là công viên Ninh Kiều là một địa danh du lịch, văn hóa đặc trưng của thành phố Cần Thơ, như Hà Nội có Chùa Một Cột và thành phố Hồ Chí Minh có Nhà thờ Đức bà vậy.

Được xây dựng trở thành một công viên với khoảng 7000m2 với phong cảnh sông nước hữu tình và vị trí thuận lợi nhìn ra sông Hậu, Bến Ninh Kiều đã trở thành địa điểm du lịch thu hút dông đảo người dân địa phương và du khách trong, ngoài nước.

Bến Ninh Kiều - Cần Thơ
Bến Ninh Kiều – Cần Thơ

Từ bến Ninh Kiều có thể nhìn thấy cầu Cần Thơ – cây cầu có nhịp chính dài nhất Đông Nam Á vào thời điểm năm 2010. Hướng mắt sang Xóm Chài và hướng Cồn Ấu, du khách sẽ thấy mộ dải cù lao trải dài. Bến Ninh Kiều lên đèn về đêm nếu từ hướng Xóm Chài nhìn sang sẽ trông như những hạt trân châu lấp lánh ẩn hiện dưới làn nước sông Hậu êm đềm.

Phía trong khuôn viên được đặt bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh cao 7,2m, đặt trên bệ cao 3,6m với trọng lượng hơn 12 tấn.

Đường Hai Bà Trưng đã được quy hoạch thành phố đi bộ, chợ đêm và chợ ẩm thực với nhiều mặt hàng được bày bán. Đêm trên bến Ninh Kiều, hệ thống đèn chiếu sáng dọc bờ sông, người dân sinh hoạt dạo chơi, diễn ra các hoạt động buôn bán. Bên bờ biển, cứ cách 100m lại có dãy phố chạy dài, mỗi dãy bán một mặt hàng khác nhau, có phố bán quần áo, phố đồ an chay, lại có phố chỉ bán trái cây…. tha hồ cho du khách tham quan và lựa chọn.

Đến với Cần Thơ, du khách đừng nên bỏ lỡ dịp trải nghiệm dịch vụ du thuyền trên bến Ninh Kiều. Từ 19h đến 21h mỗi tối, những chiếc thuyền sẽ đưa du khách du ngoạn sông Hậu, tham quan các nhà hàng thủy tạ, chợ nổi trên sông, thưởng thức các món ăn đặc sản và các tiết mục văn nghệ đậm chất miền Tây sông nước.

Là một điểm đến thơ mộng, vừa yên bình lại vừa mang nét hiện đại, chắc chắn bến Ninh Kiều sẽ để lại trong lòng du khách nhiều ấn tượng khó phai khi đặt chân đến thành phố Cần Thơ.

3 Nhà cổ Bình thủy – Cần Thơ

Về xứ Tây Đô, ngoài ghé thăm chợ nổi Cái Răng, đến bến Ninh Kiều, một điểm du lịch hấp dẫn khách không thể bỏ lỡ, đó là nhà cổ Bình Thủy. Hơn 100 năm tuổi nhưng ngôi nhà cổ vẫn giữ gần như vẹn nguyên nét kiến trúc độc đáo, là sự giao thoa giữa văn hóa phương Đông và phương Tây.

Nhà cổ Bình thủy - Cần Thơ
Nhà cổ Bình thủy – Cần Thơ

Đến thủ phủ của miền Tây Nam Bộ, níu giữ chân du khách là thiên nhiên ưu đãi với cây trái ngọt lành, cá tôm phong phú. Vẻ đẹp và nét quyến rũ của mảnh đất được xưng danh “Tây Đô” gói gọn trong câu ca dao xưa: “Cần Thơ gạo trắng nước trong/ Ai đi đến đó lòng không muốn về”.

Nhà cổ Bình Thủy tọa lạc tại số 142/144 Bùi Hữu Nghĩa, Bình Thủy, Cần Thơ là điếm đến không thể thiếu với bất kì ai dù đặt tour Cần Thơ hay đi tự tức. Ngôi nhà được xây dựng từ năm 1870 thuộc sở hữu của nhà họ Dương. Căn nhà cổ này là một trong số ít những căn nhà cổ còn nguyên vẹn cho đến ngày nay, có giá trị lớn trong việc hỗ trợ công tác nghiên cứu, tìm hiểu nền văn hóa, phong tục tập quán của người dân đồng bằng sông Cửu Long thời kì giao thoa giữa hai thế kỉ.

Chủ nhân ngôi nhà là ông Dương Chấn Kỷ – một thương gia trí thức giàu có, đồng thời cũng là điền chủ có óc mỹ thuật. Ông rất thích tìm tòi cái mới, lạ của trào lưu Tây phương đang thịnh hành, đặc biệt trong lĩnh vực kiến trúc. Chính vì vậy, du khách có thể nhận thấy ngôi nhà theo phong cách kiến trúc biệt thự cổ kiểu Pháp sang trọng. Đặc biệt hơn cả là ngôi nhà mang đậm dấu ấn phong thủy rõ nét của người phương Đông, tạo nên một không gian hài hòa giữa hai nền văn hóa Đông – Tây.

Ngôi nhà được xây dựng trên tổng diện tích khoảng 6.000m2 theo hướng Đông Tây với nền nhà cao hơn 1m so với sân vườn. Khu nhà được bao bọc bởi cây cảnh được cắt tỉa chu đáo, hoa nở rộ bốn mùa. Khiến cho ngôi nhà vừa mang nét hoài cổ kính đáo vừa sống động, thơ mộng và tươi mới.

Nhà cổ Bình thủy - Cần Thơ
Nhà cổ Bình thủy – Cần Thơ

Không gian gồm: Nhà trước (5 gian), dùng làm nơi tiếp khách trong các dịp lễ trang trọng, được trang trí theo phong cách Châu Âu; Nhà giữa (5 gian), 3 gian trong được bố trí làm nơi thờ tự theo truyền thống, 2 gian bìa dùng để ở; Nhà sau được sử dụng làm nơi sinh hoạt chung, cùng với đó là các tiểu cảnh trong và ngoài. Có thể nói nhà cổ Bình Thủy là ngôi nhà cổ hiếm ở miền Tây có phong cách kiến trúc ít trùng lẫn với ngôi nhà cổ nào.

Bước qua rào cổng kiên cố bằng bê tông và sắt theo kiểu dinh thự Pháp, bạn sẽ thấy một cổng phụ xây theo kiến trúc Á Đông với 4 cột tròn, mặt trước gắn bảng “Phước An Hiệu”.

Ngay khi đứng bên trong sân và nhìn lên mặt tiền ngôi nhà cổ, du khách sẽ không khỏi trầm trồ vì vẻ đẹp tinh tế của những đường nét trang trí từ cột, vòm cửa sắt cho đến các họa tiết đắp nổi vẫn còn được lưu giữ khá nguyên vẹn.

Khác biệt với nhiều những ngôi nhà khác, mặt tiền nhà cổ Bình Thủy không có cầu thang đi lên trực tiếp mà được thiết kế hai bên, chính giữa hai cầu thang là những cây hoa kiểng án ngữ thể hiện quan niệm phong thủy của người phương Đông. Đặc biệt, trước mặt tiền là hai cây đèn được đúc bằng đồng thời Pháp tại hai lối cầu thang lên xuống của hai bên ngôi nhà.

Đi lên cầu thang qua mặt tiền vào trong ngôi nhà là hệ thống một loạt cửa sổ, đảm bảo độ thông thoáng cho ngôi nhà. Từng cột trụ bằng lim cho đến cách bài trí các phòng, nội thất đều được gia chủ sắp xếp theo luật đối xứng có âm có dương, có tả có hữu và có tiền có hậu rất tinh tế. Toàn bộ gạch lát nền đều được vận chuyển trực tiếp từ Pháp về.

Ngăn cách nhà trước, nhà sau, nhà giữa là một hệ thống bao lam và liên ba gồm nhiều con tiện và ô hộc được tạo bằng gỗ với các đồ án quy ước quen thuộc trong kiến trúc cổ, đồng thời cũng gần gũi với đời sống của người dân Việt ở Nam Bộ.

Tuy kiến trúc ngôi nhà, phòng khách bài trí theo phong cách Châu Âu, nhưng nơi quan trọng nhất là gian thờ lại thuần Việt. Điều này cho thấy có sự giao tiếp văn hóa Đông-Tây một cách hài hòa, chọn lọc thể hiện thị hiếu thẩm mỹ tinh tường của chủ nhân.

Tiếp thu cái mới nhưng vẫn giữa cốt cách dân tộc, làm cho bộ mặt văn hóa của vùng đất ngày ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Chính sự tiếp thu, vận dụng tài tình, hợp lý đã làm cho công trình có một phong cách riêng, thể hiện rõ nét lối kiến trúc giao thời giữa hai thế kỷ 19-20 của tầng lớp dân giầu có ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Cần Thơ nói riêng. Ngoài ra, du khách đến thăm còn có thể nhờ gia chủ giải thích thêm về lối kiến trúc cũng như những ẩn ý đặt trong từng cách bài trí của ngôi nhà.

Ngoài ra, trong ngôi nhà còn có một “kho cổ vật” được gìn giữ suốt nhiều thế kỉ qua như: bộ bàn ghế cẩm thạch, vân xanh có đường kính 1,5m, dày hơn 6cm xuất xứ từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc, bộ sa–lông kiểu Pháp đời Louis 15, mặt bằng đá cẩm thạch sắc xanh, chùm đèn bạch đằng TK XVIII, cặp đèn treo TK XIX, tách chén nậm trà, rượu đời Minh – Thanh, bình Thượng ngọc men xanh cao 1,2m… Những hiện vật này cho ta biết được mức độ giàu có và thú chơi đồ cao cấp của mấy đời gia đình họ Dương đất Bình Thủy, Cần Thơ.

Nhà cổ Bình thủy - Cần Thơ
Nhà cổ Bình thủy – Cần Thơ

Bằng giá trị kiến trúc, lịch sử của mình, nhà cổ Bình Thủy đã được công nhận là “di tích nghệ thuật cấp quốc gia”, ngày càng thu hút nhiều khách đến thăm. Nét độc đáo của nhà cổ Bình Thủy đã lôi cuốn nhiều đạo diễn, hãng phim chọn nơi đây làm bối cảnh phim Những nẻo đường phù sa, Người đẹp Tây Đô, Nợ đời. .. Nổi tiếng nhất là phim “Người tình” với sự góp mặt của hai diễn viên nổi tiếng Lương Gia Huy và Jane March của đạo diễn gạo cội người Pháp Jean Jacques Annaud. Khi từ giã đất Cần Thơ về Pháp, J.J. Annaud thú nhận: “Tôi đã choáng mắt trước sự tráng lệ của ngôi nhà tuyệt vời này và mong muốn nhờ điện ảnh cho thế giới biết đến nơi đây.

Khi đến thăm Nhà Cổ Bình Thủy bạn sẽ được dịp “xuyên không” về bối cảnh quá khứ xa xưa, đắm chìm trong ảo mộng cuộc sống sang giàu của các gia đình trưởng giả Nam Bộ. Mỗi du khách sẽ được nghe cuộc sống sinh hoạt thường ngày của gia đình Nam Bộ xưa hơn 100 năm về trước qua lời kể mộc mạc của gia chủ. Những câu chuyện lý thú về văn hóa Nam Bộ xưa được cất lên trong không gian hoài cổ như: Cách thức dùng cơm trong gia đình xưa, hòn Nam Bộ vì sao được xây dựng ở cửa lớn, ý nghĩa của những bức phù điêu, những bức tượng xi măng trong sân vườn… Nếu có dịp du lịch miền Tây về Cần Thơ, đừng quên ghé thăm nhà cổ Bình Thủy – ngôi nhà cổ đẹp nhất xứ Tây Đô

4 Chợ cổ – Cần Thơ

Thuở xưa, mọi sinh hoạt của người dân Đồng bằng sông Cửu Long đều gắn liền với sông nước, khách thương hồ lấy nơi hợp lưu của các ngã sông để gặp gỡ, giao lưu buôn bán; chợ búa, thị tứ được hình thành. Chợ Cần Thơ không nằm ngoài quy luật đó. Trải qua quá trình tồn tại gần 100 năm, nhà lồng chợ bên dòng sông Hậu đã trở thành biểu tượng của thành phố Cần Thơ. Đó không chỉ thể hiện giá trị lịch sử, văn hóa của cư dân vùng sông nước mà còn là linh hồn của đô thị, một kiến trúc minh chứng cho quá trình phát triển vùng đất này.

Chợ cổ - Cần Thơ
Chợ cổ – Cần Thơ

Dưới triều vua Minh Mạng, năm 1839, về mặt thương mại Cần Thơ có các chợ tự phát buôn bán khá nhộn nhịp, “… với chợ Sưu gần bến sông Cần Thơ, chợ Tân An liền hướng bến sông Bình Thủy…”. Sau khi chiếm Nam kỳ lục tỉnh và thiết lập tỉnh Cần Thơ, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cùng với việc xây dựng các trụ sở hành chính như Tòa bố, Ngân hàng,… quy hoạch ngã ba sông Bassac (sông Hậu) làm khu nghỉ dưỡng, xây công viên, cầu tàu lục tỉnh …, thực dân Pháp cũng cho cất Nhà lồng chợ gần với các công trình trên. Đây là Chợ trung tâm ở Cần Thơ, một trong các ngôi chợ có quy mô lớn nhất lúc bấy giờ ở miền Tây làm điểm giao thương hàng hóa.

Từ khi chính quyền Pháp xây dựng Nhà lồng chợ Cần Thơ, những dãy phố thương mại nơi đây lần lượt mọc lên ngày càng đông đúc, nền kinh tế của Cần Thơ và các tỉnh lân cận sung túc hẳn lên, Chợ Cần Thơ nhanh chóng trở thành đầu mối giao thông, thương mại bậc nhất của Nam Kỳ lục tỉnh, nên lúc bấy giờ có tên là chợ Lục tỉnh. Ngoài ra, do đặc điểm chợ gần công viên trước kia trồng rất nhiều cây dương nên còn gọi là chợ Hàng Dương… Nhưng tên Chợ Cần Thơ từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Cần Thơ, nhất là các cụ già hay những người đi xa lâu ngày trở về thăm quê hương xứ sở.

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, vị trí Nhà lồng chợ Cần Thơ vẫn không thay đổi, mặt chính của Chợ tọa lạc trên đường Hai Bà Trưng, phía trước đối diện với công viên và các dãy phố thương mại, mặt sau hướng ra sông Hậu, theo thế “tiền lộ, hậu sông” nên rất thuận lợi cho dịch vụ và thương mại. Nhà lồng Chợ Cần Thơ có diện tích 1.723m2 , thiết kế theo hình chữ T, kết cấu chủ yếu bằng bê tông, cốt thép, mái lợp ngói, với phong cách kiến trúc vừa cổ kính, vừa hiện đại, tạo không gian chợ cao ráo và vững chãi. Mặt chính của Chợ có ba tháp, giữa là tháp lớn nhất, đối xứng có hai tháp nhỏ hơn trang trí hoa văn và lam gió tạo sự thông thoáng. Riêng đỉnh tháp trang trí hình hỏa châu và long vân cách điệu, mặt tháp có gắn đồng hồ nên người dân gọi là tháp đồng hồ. Về quy mô mặc dù không lớn như chợ Đông Ba ở Huế, chợ Bình Tây và chợ Bến Thành ở thành phố Hồ Chí Minh do hãng thầu Pháp Brossard et Mupin xây dựng đầu thế kỷ XX, nhưng Chợ Cần Thơ có kiến trúc gọn, đẹp, tinh tế theo lối không gian mở, bốn bề lộng gió, kết hợp hài hòa giữa hai phong cách kiến trúc Đông – Tây từ chất liệu, màu sắc đến đường nét, chính những đặc điểm này làm tăng thêm vẻ đẹp của chợ và mang nét đặc trưng văn hóa của vùng sông nước. Đặc biệt, là sự kết hợp hài hòa không gian kiến trúc giữa công trình chợ, các dãy phố, cùng với công viên cây xanh ở phía trước đến nay vẫn còn giữ được nguyên trạng, có lẽ vì vậy mà Chợ Cần Thơ một thời từng được mệnh danh là ngôi chợ đẹp ở Nam kỳ lục tỉnh.

Chợ cổ - Cần Thơ
Chợ cổ – Cần Thơ

Chợ Cần Thơ hoạt động liên tục hơn 100 năm qua, đã làm tròn vai trò sứ mệnh lịch sử của chợ đầu mối thương mại ở Nam kỳ lục tỉnh từ đầu thế kỷ XX. Đến khi Cần Thơ được công nhận là thành phố trực thuộc Trung ương, chợ Cần Thơ vẫn tiếp tục phát huy vai trò của chợ trung tâm đầu mối, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế thương mại, dịch vụ cho Cần Thơ và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Do qua thời gian dài sử dụng, Nhà lồng chợ Cần Thơ xuống cấp và có nhiều lần sửa chữa nhỏ đã làm thay đổi một số chi tiết kiến trúc ban đầu, nhưng nhìn chung hình dáng kiến trúc vẫn không thay đổi. Nhằm bảo tồn nguyên trạng kiến trúc cũ của chợ Cần Thơ, tiếp tục giữ gìn kế thừa và phát huy ưu điểm của chợ truyền thống đi đôi với phát triển kinh tế thương mại, dịch vụ, năm 2005 Nhà lồng chợ Cần Thơ được Ủy ban nhân dân thành phố giao cho Công ty Thương nghiệp tổng hợp thành phố Cần Thơ (CTC) đầu tư tu bổ, phục hồi nguyên trạng kiến trúc ban đầu, đồng thời khai thác theo hướng văn hóa, thương mại, dịch vụ du lịch. Công trình được khánh thành nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền Nam (30/4/1975 – 30/4/2005).

Hiện nay, trong Nhà lồng chợ Cần Thơ có khoảng 80 kiosque bày bán các sản phẩm như: quà lưu niệm, hàng mỹ nghệ truyền thống, may mặc và các đặc sản đặc trưng ở Nam bộ… Ngoài ra, trong chợ còn có nhà hàng Sao Hôm phục vụ các món ăn Âu, Á, sau khi tham quan mua sắm du khách có thể nghỉ chân để thưởng thức và ngắm nhìn vẻ đẹp của dòng sông Hậu hiền hòa.

Từ năm 2009, thành phố Cần Thơ triển khai các hoạt động văn hóa gắn với phát triển du lịch tại bến Ninh Kiều, dọc theo tuyến đường Hai Bà Trưng và các khu phố thương mại gần Nhà lồng chợ Cần Thơ có các hoạt động nhộn nhịp về đêm như: ẩm thực đường phố, “Chợ đêm Tây Đô”, biểu diễn nghệ thuật truyền thống vào ngày thứ Bảy, Chủ Nhật… , càng làm tăng thêm cảnh nhộn nhịp, năng động của Nhà lồng chợ, tạo được sự thu hút mạnh mẽ đối với các tour du lịch trong và ngoài nước khi đến tham quan Cần Thơ.

Với Nhà lồng chợ Cần Thơ, thành phố có thêm một điểm tham quan du lịch, bởi ngoài vẻ đẹp về không gian kiến trúc, nơi đây còn là một bức tranh tổng hợp phác họa chân dung cuộc sống, sinh hoạt của cư dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trải qua hơn 100 năm, Nhà lồng chợ Cần Thơ vẫn giữ nguyên giá trị về lịch sử, văn hóa, kiến trúc, gắn liền với sự hình thành và phát triển của Cần Thơ và đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Với những giá trị đó, năm 2010 sau thời gian phát động cuộc thi thiết kế biểu tượng Cần Thơ, UBND thành phố Cần Thơ chọn và quyết định công bố thiết kế trong đó có hình tượng Nhà lồng Chợ cách điệu nằm bên dòng sông Cửu Long là biểu tượng của Cần Thơ. Đồng thời, năm 2012 Nhà lồng chợ Cần Thơ được UBND thành phố Cần Thơ ban hành quyết định xếp hạng là di tích lịch sử – văn hóa.

Trong tương lai, hy vọng Nhà lồng chợ Cần Thơ sẽ là địa điểm lý tưởng để tổ chức các sự kiện văn hóa, ẩm thực, khôi phục lại cảnh quan trên bến, dưới thuyền như một nét văn hoá của vùng sông nước. Đây cũng chính là những giải pháp tích cực để phát huy di tích, đồng thời cũng nhằm mục đích tiếp tục gìn giữ, kế thừa và phát huy ưu điểm chợ truyền thống song song với quá trình phát triển chợ thương mại, dịch vụ du lịch trong bối cảnh hiện nay.

5 Chùa Ông – Cần Thơ

Đến thành phố Cần Thơ, một đặc điểm làm cho du khách chú ý là sự đan xen hài hòa của những kiến trúc Việt, Hoa, Khmer. Trong đó, chùa Ông của người Hoa ở Bến Ninh Kiều là một công trình vừa đẹp vừa mang nét cổ kính hiện nay vẫn còn nguyên vẹn.

Chùa Ông - Cần Thơ
Chùa Ông – Cần Thơ

Chùa Ông là tên dân gian dùng để chỉ cơ sở tín ngưỡng của người Hoa thờ Quan Thánh Đế (Quan Công). Vốn trước đây là hội quán do nhóm người Hoa đến từ hai phủ Quảng Châu và Triệu Khánh (tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc) cùng đứng ra thành lập để sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng nên chùa Ông còn có tên: Quảng Triệu Hội Quán (廣 肇 會 館).

Nằm trong khu đô thị trung tâm của Cần Thơ, chùa Ông tọa lạc trên sở đất rộng 532m2 mang nét kiến trúc đặc trưng của người Hoa, được khởi công xây dựng vào năm 1894 và hoàn thành năm 1896. Phần lớn vật liệu cấu thành các chi tiết kiến trúc được mang từ Trung Quốc sang. Toàn bộ kiến trúc được bố cục theo hình chữ 國 (Quốc) với các dãy nhà khép kín, vuông góc nhau, ở giữa chừa một khoảng không gian trống gọi là sân thiên tỉnh (giếng trời). Mái lợp ngói âm dương với các gờ bó mái bằng gốm tráng men xanh thẫm. Trên nóc chùa trang trí gốm sứ đủ màu với mô típ lưỡng long tranh châu, cá hóa long, chim phụng, các tòa thành, hình nhân… thể hiện khung cảnh sinh hoạt lễ hội dân gian của người Hoa, đặc biệt ở hai đầu đao còn có 2 tượng người cầm mặt trời, mặt trăng tượng trưng cho Nhật – Nguyệt, âm – dương hòa hợp.

Trước khi vào chùa, du khách bước lên 5 bậc đá xanh và qua cửa gỗ truyền thống có vẽ hình 2 vị thần giữ cửa. Bên trong chia làm 3 phần: Tiền điện là nơi thờ Phúc Đức Chính thần, Mã Tiền Tướng quân. Ngăn cách giữaTiền điện và Chính điện là bức bình phong gỗ có tác dụng như một lớp cửa để hạn chế khách đi thẳng từ ngoài vào, nhằm tạo sự tôn nghiêm. Sân thiên tỉnh thấp hơn hạng mục khác trong khối nhà chính, phía trên có mái che di động để đóng, mở khi cần thiết, ngoài chức năng điều chỉnh ánh sáng thiên nhiên còn có tác dụng xử lý khói nhang rất hiệu quả. Phía trên gian Trung điện treo thuyền bát nhã hình rồng bằng gỗ bên trong có vô số hình nhân chạm khắc rất tinh xảo. Đây cũng là những nét đặc trưng phổ biến trong các công trình tín ngưỡng của người Hoa.

Chính điện là gian quan trọng nhất, nơi đây có đặt dãy bàn thờ khung gỗ mặt kính, bên trong có các bức phù điêu chạm trổ sơn nhũ vàng, nội dung các bức chạm thể hiện điển tích trong truyện Tam Quốc, các sinh hoạt đời thường như gánh nước, đốn củi và xen lẫn các loài thủy sản như tôm, cua, cá… Đối tượng thờ chính ở đây là Quan Thánh đế quân – một vị thần tượng trưng cho nhân nghĩa, lễ, trí, tín đi vào tiềm thức của bà con người Hoa được đặt trang trọng ở giữa, ngồi trên ngai, mặt đỏ, râu 5 chòm đen thả dài, khoác áo bào xanh; thờ phối tự còn có Thiên Hậu Thánh Mẫu, Tài Bạch Tinh Quân, Đổng Vĩnh Trạng Nguyên, bên trái chính điện là gian thờ Phật bà Quan Âm. Các tượng được chế tác theo nghệ thuật tượng tròn bằng nhiều chất liệu khác nhau như gỗ, thạch cao, gốm…

Chùa Ông - Cần Thơ
Chùa Ông – Cần Thơ

Nổi bật nhất trong nghệ thuật điêu khắc ở chùa Ông là những phù điêu. Phù điêu chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong trang trí. Phù điêu hiện diện khắp nơi từ các bao lam, hoành phi, liễn đối, xà ngang… bằng nghệ thuật chạm nổi với nội dung vô cùng phong phú được rút ra từ các huyền thoại, lịch sử Trung Quốc, hoặc kỹ thuật chạm chìm những đề tài mai, lan, cúc, trúc, rồng, phụng, cá hóa long, bông lúa…

Ngoài nghệ thuật điêu khắc với các đường nét chạm trổ tinh tế, giữ được sắc thái vừa trang nghiêm vừa tươi mát, các nghệ nhân còn thể hiện được tài năng của mình ở nghệ thuật thư pháp: các kiểu chữ “Triện”, “Thảo” chạm khắc trên hoành phi, liễn đối, lư, chuông đồng … đã nâng cao giá trị thẩm mỹ và nội dung tín ngưỡng của di tích. Bên cạnh đó, toàn bộ khung sườn chịu lực của công trình đều bằng danh mộc quý hiếm với hệ thống vì kèo khá phức tạp, vòm mái được chống đỡ bởi 6 hàng cột vuông, sơn đỏ, chân đế bằng đá tảng nguyên khối trông rất vững chãi, xung quanh xây tường bằng gạch thẻ. Riêng gạch ở trụ cổng được sản xuất thời Pháp thuộc trên có khắc hàng chữ: “A-Julien α Ce…SocTrang”.

Hàng ngày chùa Ông đón rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, chiêm bái, nhất là vào các ngày Rằm, ngày vía Thiên Hậu Thánh Mẫu, Phúc Đức Chính thần, Tài Bạch Tinh quân… các dịp lễ Tết, đặc biệt là lễ vía Quan Thánh Đế Quân (24/6 âm lịch). Mặc dù lễ vía chỉ diễn ra trong khoảng 15 phút, không rộn ràng tiếng trống kèn, nhưng rất thiêng liêng, trang trọng mang đậm nét văn hóa dân gian. Lễ vật gồm heo quay và vịt quay, hoa quả, nhang, đèn và bộ áo, mão hàng mã của Quan Thánh. Khách đến tấp nập không chỉ có bà con người Hoa mà có cả người Việt cùng tham dự để thỉnh cầu tài, lộc, an khang.

Ngoài những lễ chính nêu trên, tại chùa Ông còn diễn ra sinh hoạt truyền thống như khai quang điểm nhãn, múa lân, sư, rồng và hội đấu giá đèn lồng. Lễ khai quang điểm nhãn thường diễn ra vào dịp cuối năm, hoặc trước khi bắt đầu lễ hội múa lân, sư, rồng tại chùa. Theo truyền thuyết, những linh vật đều có hồn thể hiện ở đôi mắt. Vì vậy, trước khi lân, sư, rồng xuất hành biểu diễn người ta chọn ngày tốt đến chùa làm lễ “Khai quang điểm nhãn”, với mục đích mong Ông phù hộ cho mắt lân có thần, sáng tinh anh, nhanh nhẹn, dũng mãnh trong từng động tác múa;

Đối với lễ hội đấu đèn, chùa Ông chỉ tổ chức vào dịp khánh thành, kỷ niệm thành lập Hội quán… Không khí ngày hội rất rộn ràng vui tươi, không chỉ có người Hoa ở Cần Thơ mà còn có các Hội đoàn bạn ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh tham dự. Mục đích việc tổ chức đấu đèn tại chùa Ông mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, vì số tiền đấu được trong lễ hội chủ yếu dùng vào việc đóng góp xây trường Hoa ngữ, nghĩa trang, ủng hộ trường dạy trẻ khuyết tật, mồ côi và trùng tu cho ngôi chùa… Đây là hoạt động rất tích cực nhiều năm qua được Ban Quản trị phát huy mang lại hiệu quả thiết thực cho xã hội.

Chùa Ông có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Hoa ở Cần Thơ. Ngoài những giá trị về mỹ thuật, kiến trúc và là nơi giao lưu sinh hoạt, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nơi đây còn là cơ sở Hoa vận vững chắc, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Với những giá trị đó, ngày 21 tháng 6 năm 1993, chùa Ông đã được Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật.

6 Đình Bình Thủy – Cần Thơ

Với những giá trị tinh hoa của văn hóa sông nước miệt vườn Cần Thơ nói riêng và Miền Tây Nam Bộ nói chung Đình Bình Thủy là một công trình mang đậm giá trị kiến trúc nghệ thuật cổ truyền của người Việt trong những năm tháng khai hoang ở miền Tây Nam Bộ, với những họa tiết trang trí, khắc gỗ tinh tế và sinh động.

Đình Bình Thủy - Cần Thơ
Đình Bình Thủy – Cần Thơ

Nằm bên cạnh rạch Long Tuyền, thuộc phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, Tp.Cần Thơ, đình Bình Thủy là một công trình lịch sử rất tiêu biểu cho giai đoạn khai hoang lập cư của người dân miền Tây Nam Bộ vào thế kỷ 19. Từ trung tâm Tp.Cần Thơ bạn đi khoảng 5km theo đường Nguyễn Trãi qua đường Cách Mạng Tháng Tám và Lê Hồng Phong là sẽ tới đình Bình Thủy.

Vào năm 1844 khi có nạn lũ lụt hoành hành dữ dội ở làng Bình Hưng, làm nhà cửa ruộng vườn tiêu tan, người dân địa phương lập nên ngôi đình bằng tre gỗ lợp lá tại vòm rạch Bình Hưng, thờ Thành hoàng của làng, cầu mong mưa thuận gió hòa. Năm 1852, quan Khâm sai Huỳnh Mẫn Đạt đi tuần trên một hải thuyền, khi đến ngang Cồn Linh thì gặp trận cuồng phong, may mắn nhờ ẩn nấp tại vàm rạch Bình Hưng nên vô sự. Thoát nạn, ông đã cho tổ chức tiệc mừng cùng bà con địa phương và đổi lại tên đất này là Bình Thủy.

Lúc hồi triều, ông đã tấu trình lên vua Tự Đức, xin ban sắc phong cho thần Thành hoàng làng. Kể từ đó, làng có tên mới là Bình Thủy, và đình thần Bình Thủy đã được xây lại khang trang hơn.

Đến năm 1909, đình Bình Thủy được tu sửa xây dựng lại giống như hiện nay và làng Bình Thủy được đổi tên thành làng Long Tuyền (được bắt nguồn do rạch Bình Thủy có hình tựa rồng đang nằm), nên người dân nơi đây còn gọi là đình thần Long Tuyền hay Long Tuyền Cổ Miếu. Đến năm 1979, nơi đây được chia làm 3 đơn vị hành chính: phường Bình Thủy – phường An Thới – xã Long Tuyền. Ngôi đình thuộc phạm vi phường Bình Thủy, chính vì thế đã dùng lại tên cũ là đình Bình Thủy cho đến ngày nay.

Đình Bình Thủy - Cần Thơ
Đình Bình Thủy – Cần Thơ

Đình có lối kiến trúc khác với các đình ngoài miền Bắc. Phía ngoài có hai miếu lớn thờ thần Nông và thần Hổ, gần cổng có hai miếu thờ thần Rừng và thần Khai kênh dẫn nước. Trong khuôn viên đình Bình Thủy được chia làm 2 khu vực: khu đình chính và khu lục ấp, Khu đình chính có 5 ngôi nhà gồm: 2 nhà vuông là tiền đình và chính điện, và 3 nhà nối hai nhà vuông với nhau. Khu lục ấp gồm: 1 nhà hát và khu nhà dùng để chuẩn bị đồ cúng lễ.

Ngôi tiền đình và chính điện có hình vuông, mỗi mặt có 6 hàng cột. Ngôi chính điện có 3 mái chồng lên nhau theo lối kiến trúc “thượng lầu hạ hiên”; trên nóc có gắn tượng người, kỳ lân, cá chép hóa rồng; các cột được chạm khắc hình rồng, hoa mẫu đơn quấn quanh; bên trong đặt các ban thờ Thành hoàng làng và thờ các vị có công với nước như: Võ Huy Tập, Đinh Công Tráng, Nguyễn Trung Trực, Bùi Hữu Nghĩa…

Mặc dù trải qua quảng thời gian thăng trầm lịch sử, Đình Bình Thủy vẫn lưu giữ được nhiều yếu tố nghệ thuật kiến trúc đặc sắc của một làng cổ tại vùng sông nước miền Tây Nam Bộ. Đến tận hôm nay, đình Bình Thủy vẫn tiếp tục được bảo tồn, trở thành điểm tham quan giá trị của du lịch Cần Thơ.

Cứ hàng năm, nơi đây thường diễ ra ngày lễ Thượng điền (12/14 tháng 4 âm lịch), lễ Hạ điền (14/15 tháng chạp) rất đông vui, náo nhiệt với các tiết mục diễn xướng và trò chơi dân gian như: hát bội, thả vịt, kéo co, nữ công gia chánh… được duy trì từ xưa cho đến ngày nay, thu hút đông đảo người dân tham gia.

Đình Bình Thủy đã được Bộ VHTT-DL được công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật vào năm 1989.

7 Chùa Long Quang (Long Quang Cổ Tự) – Cần Thơ

Khởi đầu ngôi chùa là một am nhỏ được sư Võ Văn Quyền lập để tu hành cầu mong mọi sự tốt lành đến với dân làng. Trải qua nhiều lần thay đổi tên gọi, năm 1966 chùa được xây dựng lại và mang tên “Long Quang Cổ Tự” hay còn gọi là Chùa Long Quang, với ý nghĩa là ánh sáng ấm áp mang đến niềm vui và hạnh phúc cho mọi người trong tình yêu của Đức Phật.

Chùa Long Quang (Long Quang Cổ Tự) - Cần Thơ
Chùa Long Quang (Long Quang Cổ Tự) – Cần Thơ

Khuôn viên Chùa có diện tích khoảng 12.000 m2, bao gồm: cổng tam quan, chính điện, giảng đường, thất trụ trì, tháp cốt, trai đường…
Chùa Long Quang thuộc hệ phái “Thiền tông lâm tế” du nhập từ Trung Quốc sang, nhưng ngôi chùa không chỉ thờ Phật Tổ theo đúng hệ phái mà các tượng thờ ở đây rất phong phú, được bài trí theo phong cách Việt Nam. Điều đó thể hiện sự kết hợp hài hòa về tôn giáo tín ngưỡng của hai dân tộc Việt – Hoa cùng sinh sống trên vùng đất Cần Thơ.

Đối tượng thờ chính của Chùa Long Quang là Phật Thích Ca, ngoài ra trong Chùa còn thờ Long Vương, Ngọc Hoàng, Chuẩn Đề, Địa Tạng, Giám Trai. Đặc biệt là nhóm tượng 18 vị La Hán. Trên tay mỗi vị đều cầm một bửu bối khác nhau, tượng trưng cho phẩm hạnh, đức độ hoặc phương tiện mà các vị chứng quả. Các con vật cưỡi của các vị La Hán đều là thú dữ, nhưng ở tư thế nằm sát xuống đất với vẻ quy thuận tuyệt đối vị chủ nhân ngồi trên mình nó. Dù mỗi vị ngồi với mỗi tư thế khác nhau và con thú cũng đa dạng về chủng loài như: hổ, nai, rồng, mèo, trâu, dê, báo… và cũng có nhiều tư thế khác nhau, nhưng cả vị chủ nhân và con vật đều được thể hiện một cách uyển chuyển, mềm mại trong từng tư thế, cử chỉ, nét mặt và ánh mắt nhìn.

Hàng năm, Chùa tổ chức 3 kỳ lễ hội lớn: cúng Thượng Ngươn (tháng giêng), cúng Trung Ngươn (tháng 7), cúng Hạ Ngươn (tháng 10); cúng Phật Đản sanh vào tháng 4.

Chùa Long Quang (Long Quang Cổ Tự) - Cần Thơ
Chùa Long Quang (Long Quang Cổ Tự) – Cần Thơ

Trong 2 thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Chùa Long Quang còn là cơ sở nuôi chứa nhiều cán bộ, chiến sĩ cách mạng.
Ngày 21 tháng 6 năm 1993, Bộ Văn hóa Thông tin đã ban hành Quyết định số 774 QĐ/BT xếp hạng Chùa Long Quang là Di tích nghệ thuật cấp quốc gia.

Những ngày cúng lớn trong năm cũng là ngày lễ hội truyền thống chung của nhân dân địa phương, khi có điều kiện Chùa còn tổ chức hát Phật để phục vụ nhân dân.

8 Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam – Cần Thơ

Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam tọa lạc tại xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, cách làng du lịch Mỹ Khánh vài trăm mét và cách trung tâm thành phố khoảng 15 km. Khách thập phương lần đầu tiên đến đây sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước dáng vẻ độc đáo của ngôi chùa mang nét văn hóa kiến trúc thời Lý – Trần.

Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam - Cần Thơ
Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam – Cần Thơ

Thiền viện trúc lâm Phương Nam được khởi dựng từ tháng 7 năm 2013 và chính thức khánh thành vào ngày 17 tháng 5 năm 2014, là một trong những công trình Phật giáo lớn nhất ở Tây Nam Bộ với tổng diện tích lên đến 38.016 m vuông.

Thiền viện theo phái Trúc Lâm Yên Tử của Phật hoàng Trần Nhân Tông – vị vua đã lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên xâm lược. Khi đất nước thái bình, vua đã nhường ngôi lại cho con trai và một mình đến núi Yên Tử tu hành, sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên tử.

Vì là ngôi chùa thuộc hệ phái Trúc Lâm Yên Tử nên hầu hết các hạng mục đều mang đậm lối phong cách kiến trúc thuần Việt thời Lý – Trần. Đây là một nét đặc trưng rất rõ trong kiến trúc xây dựng của các ngôi Thiền Viện ở Việt Nam. Và đây cũng là yếu tố quan trọng để bất kỳ ai khi nhìn vào cũng đều phân biệt được với phong cách kiến trúc của những ngôi chùa Khmer Nam Tông hoặc Bắc Tông tại miền Tây Nam Bộ.

Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam - Cần Thơ
Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam – Cần Thơ

Đến tham quan Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam Cần Thơ, đi một vòng quan sát từ ngoài vào trong, điểm nhấn đầu tiên của ngôi chùa là diện tích rất rộng với nhiều hạng mục lớn như: cổng tam quan, chính điện, tháp chuông, tháp trống, hậu điện, … đều chung một sắc thái chung là màu ngói nâu đỏ với các cây cột gỗ chống lớn và phần nền được làm bằng đá khối nhìn rất vững chãi.

Cổng tam quan cao rộng xây theo lối gác mái cong đầu đao lợp bằng ngói đỏ. Chính giữa cổng là tấm biển bằng gỗ khắc chữ nổi mạ vàng “Thiền Viện Trúc Lâm Phương Nam”; phía dưới tấm biển hai bên cổng là hai tượng Vi Đà Hộ Pháp (Ông Thiện) bên trái và tượng Tiêu Diện Đại Sĩ (Ông Ác) bên phải. Nhìn chung, tam quan thiền viện rất bắt mắt trong ánh nhìn ban đầu khi toát lên hình ảnh vừa uy nghi, hiện đại nhưng rất truyền thống.

Qua cổng bước vào trong là khoảng sân lát gạch đỏ tươi rộng rãi dẫn đến chính điện, du khách sẽ thấy 2 hàng tượng các vị La Hán bằng đá hoa cương đặt song song. Dưới chân mỗi bức tượng đều khắc tên những vị anh hùng có công bảo vệ và xây dựng đất nước.

Phía bên phải sân chính điện là tháp chuông mái cong cao vút được mô phỏng theo lối kiến trúc tháp chuông ở chùa Keo (Thái Bình), bên trong đặt đại hồng chung (chuông đồng) nặng 1,5 tấn. Bên trái sân là tháp trống với giá gỗ đặt trống được chạm trổ công phu, tinh xảo, mang tính nghệ thuật cao. Tất cả những hạng mục trên đều được làm từ khoảng 1.000 khối gỗ lim được nhập từ Nam Phi trực tiếp.

Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam - Cần Thơ
Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam – Cần Thơ

Phần chánh điện lợp ngói tám mái theo phong cách thời vua triều Trần. Tổ điện lợp ngói bốn mái theo phong cách thời nhà Lý. Mái chùa là dạng kiến trúc điển hình mô phỏng đời sống nông nghiệp của người dân Việt Nam. Mái chùa cong cong hình mũi thuyền đương đầu với sóng gió, từ trên cao thu hẹp lại, phía dưới lan rộng ra tạo thế vững chắc còn gọi là “thượng thu hạ thách”. Càng vào bên trong, du khách sẽ cảm nhận được không khí trong lành cùng với mùi thoang thoảng của nhang đốt, hòa cùng với khói nhang tạo nên sự cổ kính và linh thiêng.

Bước vào chính điện (còn gọi là Đại Hùng Bửu Điện) bạn sẽ bị choáng ngợp bởi các khối tượng khổng lồ, không gian vô cùng tĩnh lặng mà đầy uy nghiêm. Riêng tượng Phật Thích Ca Mâu Ni thờ trong chánh điện được làm bằng đồng, nặng 3,5 tấn và đại hồng chung nặng 1,5 tấn. Tượng Bồ Tát và các vị tổ sư được tạc bằng gỗ Du Sam có tuổi thọ 800 năm. Sàn lót gạch màu đỏ, tất cả 44 cột gỗ đều được đặt trang trọng trên những tấm tán bằng đá xám vân mây, chạm trổ hình hoa sen cách điệu.

Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam - Cần Thơ
Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam – Cần Thơ

Dọc hai dãy hành lang cũng trưng bày rất nhiều bức tượng các vị la hán tạc bằng đá hoa cương, mỗi bức tượng như một mảng kiến trúc nghệ thuật đặc sắc. Các bức tượng thờ được tạo tác từ bàn tay của những nghệ nhân nổi tiếng trong nghề, mỗi bức tượng đều toát lên vẻ thần thái riêng. Chiêm ngưỡng những tuyệt tác ấy người xem không khỏi thán phục bàn tay tài hoa của những nghệ nhân. Nhìn vào đó ta có thể cảm nhận được sự công phu, tỉ mỉ đến từng chi tiết phác lên cái hồn của mỗi vị Phật.

Ngoài ra, trong khuôn viên Thiền viện còn có các hạng mục khác như: Quan Âm điện, Di Lặc điện (Thủy tạ), chùa Một Cột, giảng đường, khách đường, trai đường, thư viện, phòng Đông y Nam dược… Các công trình được bài trí hài hòa với cây xanh, tạo nên khung cảnh tĩnh mịch, mang lại cảm giác thư thái cho những ai muốn dạo bước tham quan.

Bên phải là nhà thủy tạ nằm trên mặt hồ tròn vành vạnh gợn sóng lăn tăn, với những bông hoa súng khoe sắc tươi thắm dưới ánh mặt trời. Dẫn vào nhà thủy tạ là một cây cầu sơn màu đỏ, bên trong có bức tượng Phật Di Lặc bằng gỗ quí (màu nâu), với nét mặt vô ưu. Phía bên trái cũng là nhà thủy tạ, với lối kiến trúc giống nhau, duy chỉ khác có bức tượng thờ Phật Bà Quán Âm bằng đá trắng (cao 2 mét) được đặt trang trọng bên trong với vẻ mặt bao dung, thánh thiện như soi rọi hết mọi đau khổ của chúng sinh và sẵn sàng ra tay “từ bi” cứu độ.

Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam được xem là một trong những công trình nghệ thuật độc đáo nhất của xứ Tây Đô. Đến thăm thiền viện Trúc Lâm Phương Nam là tìm về với không gian của cõi tĩnh, tâm hồn được gột sạch mọi bụi bặm của trần thế. Ở đây bạn sẽ được học về những triết lý sống đơn giản nhất từ nhà Phật mà vô cùng sâu sắc. Bước vào thiền viện có cảm giác như bước vào một thế giới khác, nơi mà mọi thứ xô bồ không tồn tại, chỉ có những tấm lòng thanh khiết hướng về cửa Phật. Dạo mát quanh hồ sen, tìm cho mình một chốn thanh tịnh để tĩnh tâm, thắp hương cầu chúc tốt lành, thật là thú vị biết bao.

9 Khám lớn Cần Thơ – Cần Thơ

Di tích lịch sử Khám lớn Cần Thơ hiện tọa lạc tại số 08, đường Ngô Gia Tự, phường Tân An, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Khám lớn Cần Thơ - Cần Thơ
Khám lớn Cần Thơ – Cần Thơ

Để phục vụ cho bộ máy cai trị tại Cần Thơ, từ năm 1876 đến năm 1886, thực dân Pháp đã xúc tiến xây dựng nhiều cơ quan, công sở… trong đó có trại giam mang tên “Prison Provinciale”. Trại giam được xây dựng trên diện tích rộng 3.762m2, liền kề Dinh Tỉnh trưởng, đối diện Tòa Hành chánh và biệt lập với khu dân cư, nhân dân thường gọi là Khám lớn Cần Thơ. Khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết năm 1954, chính quyền Sài Gòn đổi tên tỉnh Cần Thơ thành tỉnh Phong Dinh, Khám lớn Cần Thơ được đổi tên thành Trung tâm cải huấn. Nhưng dù được gọi với tên gọi nào chăng nữa thì Khám lớn Cần Thơ thực chất vẫn là địa ngục trần gian – là nơi thực dân, đế quốc giam cầm, đày đọa những chiến sĩ cách mạng và đồng bào yêu nước của ta.

Nhìn từ phía trước vào cổng Khám có hình vòm, bên trái cổng là dãy nhà giám thị trực, bên phải là văn phòng làm việc và là nơi ở của giám thị trưởng. Chung quanh Khám lớn được bao bọc bởi bức tường cao từ 3,6m đến 5m trên được cắm đầy những mảnh ve chai và dây kẽm gai rào kín. Ở mỗi góc tường là một tháp canh cao 6m có lính gác và đèn pha chiếu sáng về đêm để kiểm soát tù nhân. Bên trong Khám lớn có 21 phòng giam tập thể cùng nhiều phòng biệt giam. Giữa các dãy nhà giam là một sân rộng để tù nhân ra phơi nắng. Trong khoảng sân này thực dân, đế quốc còn cho xây dựng nhà chùa, nhà thờ để tỏ ra tôn trọng tín ngưỡng, tôn giáo của tù nhân. Khoảng năm 1963, hai dãy nhà lầu được xây dựng thêm trên phần sân phía sau nhà chùa, tầng trệt không vách tường – có thời gian được dùng làm nhà hướng nghiệp cho tù nhân…

Sức chứa quy định trong mỗi phòng giam tập thể chỉ khoảng 30 đến 40 người nhưng có lúc số tù nhân lên đến 70 đến 80 người. Nhất là sau cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ, địch điên cuồng dùng mọi thủ đoạn khủng bố, trả thù nhân dân ta. Nhiều cán bộ lãnh đạo, đảng viên và quần chúng đã bị thực dân Pháp bắt giam tại Khám lớn Cần Thơ như đồng chí Quản Trọng Hoàng (Bí thư Liên Tỉnh ủy Cần Thơ), đồng chí Lê Văn Nhung (Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ), đồng chí Ngô Hữu Hạnh (Thường vụ Tỉnh ủy Cần Thơ) cùng nhiều chiến sĩ khác. Ngoài ra, địch còn đưa hàng trăm quần chúng tham gia khởi nghĩa và các đồng chí lãnh đạo ở các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… về đây giam giữ, tra tấn dã man.

Đặc biệt trong thời kỳ đế quốc Mỹ dùng “Luật 10/59” để khủng bố, kềm kẹp nhân dân ta, bắt giam tất cả những người tình nghi là “Việt cộng”, lúc này số tù nhân trong mỗi phòng có khi lên đến hơn 100 người. Nhiều tù nhân không chịu nổi chế độ giam cầm, tra tấn, ăn uống khắc nghiệt đã phải chết dần chết mòn trong nhà lao tối tăm này. Số người còn lại bị nhiễm đủ các bệnh: ghẻ lở, sốt rét, thương hàn, lao phổi… Đối với những tù chính trị thuộc loại đặc biệt địch nhốt riêng ở các phòng biệt giam, bị tra tấn đến bại liệt nhưng vẫn một lòng trung thành với Đảng với dân, giữ tròn khí tiết đến hơi thở cuối cùng.

Mặc dù bị tra tấn cực hình, các đồng chí đảng viên trong tù vẫn có Chi bộ, Đảng bộ, sinh hoạt học tập, tổ chức đấu tranh với địch từng giờ từng phút kiên quyết giữ gìn phẩm chất cách mạng. Có lần chị em nữ tù chính trị đã lợi dụng thời cơ để tổ chức đánh tên Năm Bia (phản bội, chỉ điểm) làm náo động cả khu trại giam. Vào những năm 1968-1970 nữ tù chính trị vận động cả tù thường phạm đấu tranh đòi mở cửa phòng giam để được ra sân chơi, đòi được cử người đại diện, chuyển quà thăm nuôi cho tù nhân, đòi tách tù chính trị với thường phạm… Dần dần các đồng chí tù chính trị đưa các hình thức và yêu sách đấu tranh cao hơn như tuyệt thực, đòi có y tá đến cấp thuốc, chữa trị cho bệnh nhân, chống chào cờ, chống học tập “chính trị”, đòi cải thiện chế độ ăn uống trong nhà tù…

Chính tinh thần đấu tranh bất khuất và lòng yêu nước thương dân của những người tù chính trị đã cảm hóa và giáo dục giác ngộ cách mạng được nhiều giám thị, lính gác nhà giam và họ tình nguyện làm cơ sở nội tuyến của ta, thông báo cho các đồng chí tù chính trị biết được tình hình của ta, địch ở bên ngoài để đề phòng hoặc có phương sách đấu tranh với địch trong nhà giam.

Khám lớn Cần Thơ - Cần Thơ
Khám lớn Cần Thơ – Cần Thơ

Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Khám lớn Cần Thơ trở thành chứng tích khắc sâu bao tội ác không phai mờ của thực dân, đế quốc. Cũng chính nơi đây, biết bao người con ưu tú của quê hương Cần Thơ và các tỉnh lân cận đã ngã xuống để tô điểm cho cuộc sống thanh bình, tự do, hạnh phúc hôm nay, góp phần viết nên trang sử vẻ vang hào hùng của dân tộc.

Để ghi dấu tội ác của thực dân, đế quốc; đồng thời tiếp tục giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh anh dũng, kiên cường của ông cha ta trong công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cho các thế hệ hôm nay và mai sau, ngày 28/6/1996 Bộ Văn hóa – Thông tin đã ban hành Quyết định số 1460-QĐ/VH xếp hạng Khám lớn Cần Thơ là Di tích lịch sử cấp quốc gia.

Đến tham quan Di tích lịch sử Khám lớn Cần Thơ, chúng ta còn nhìn thấy nhiều hình ảnh, tư liệu, hiện vật có liên quan hoặc gắn liền với từng đồng chí tù binh, tù chính trị đã từng bị giam giữ tại đây. Đặc biệt những hiện vật như mặt gối thêu và bếp dầu tự tạo của đồng chí Phan Thanh Sĩ, các vật dụng mà đồng chí Lê Kim Tiến chuẩn bị cho đứa con thân yêu của mình chào đời trong hoàn cảnh tù ngục, chiếc áo len của các nữ tù chính trị đan tặng đồng chí Nguyễn Thị Huệ, áo bà ba của đồng chí Võ Thị Vốn… Nổi bật giữa gian trưng bày là bức tranh “Ra trường bắn” mô tả cảnh hai chiến sĩ cộng sản Lê Văn Nhung và Ngô Hữu Hạnh hiên ngang ra trường bắn lúc 9 giờ 30 phút, ngày 04/6/1941 của Họa sĩ Tô Dự.

Hiện nay, Di tích lịch sử Khám lớn Cần Thơ là địa điểm tham quan, học tập, sinh hoạt truyền thống, luyện tập thể thao của các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, vào những dịp lễ kỷ niệm của đất nước như Ngày Giải phóng Miền Nam 30/4; Ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7… Di tích thu hút đông đảo cán bộ, nhân viên của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và học sinh, sinh viên về nguồn ôn lại truyền thống lịch sử, tri ân các Anh hùng, Liệt sĩ và đồng bào yêu nước đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

10 Cơ quan đặc ủy An Nam Cộng Sản 1929 – 1930 – Cần Thơ

Di tích lịch sử Cơ quan Đặc ủy An Nam Cộng sản Đảng Hậu Giang (gọi tắt là Đặc ủy Hậu Giang) tọa lạc tại đường Bùi Hữu Nghĩa, phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Cơ quan đặc ủy An Nam Cộng Sản 1929 - 1930 - Cần Thơ
Cơ quan đặc ủy An Nam Cộng Sản 1929 – 1930 – Cần Thơ

Tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng chí hội được Bác Hồ thành lập vào tháng 6/1925 và hoạt động ngày một phát triển. Đến giữa năm 1929 Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng chí hội đã hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam.

Tại Đại hội Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng chí hội từ ngày 01 – 09/5/1929 ở Hương Cảng (Trung Quốc) đã xuất hiện xu hướng cần phải thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất để lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước đang ngày một phát triển, nhưng không thành. Sau Đại hội, miền Bắc thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng vào tháng 6/1929; miền Nam thành lập An Nam Cộng sản Đảng vào tháng 8/1929.

Đầu tháng 9/1929, đồng chí Châu Văn Liêm đại diện An Nam Cộng Sản Đảng về Cần Thơ liên hệ với cơ sở An Nam Cộng sản Đảng để chuẩn bị hình thành một tổ chức trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong toàn miền Hậu Giang. Đồng chí Trần Thị Thơ (còn gọi là Quyền) một đảng viên hoạt động rất tích cực lúc bấy giờ được giao nhiệm vụ tìm thuê một căn nhà thuận lợi cho việc đi lại để làm cơ quan hoạt động của Đặc ủy trong khu vực chợ Bình Thủy.

Trong một đêm giữa tháng 9/1929, tại một căn nhà (nay là số nhà 34/7, đường Bùi Hữu Nghĩa, phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ), đã diễn ra một sự kiện quan trọng đối với Đảng bộ miền Hậu Giang. Đó là Hội nghị thành lập “Đặc ủy An Nam Cộng sản Đảng Hậu Giang” do đồng chí Châu Văn Liêm chủ trì. Đồng chí thay mặt tổ chức cấp trên chỉ đạo bầu Ban Chấp hành Đặc ủy đầu tiên gồm các đồng chí: Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Tây, Nguyễn Văn Trí. Đồng chí Ung Văn Khiêm được cử làm Bí thư.

Đặc ủy Hậu Giang là một tổ chức cấp Liên Tỉnh ủy đầu tiên ở miền Hậu Giang, có nhiệm vụ lãnh đạo phong trào cách mạng và xây dựng các tổ chức Đảng trong toàn miền Hậu Giang như: Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bạc Liêu, Rạch Giá, Sa Đéc, Long Xuyên

Từ khi được thành lập Đặc ủy Hậu Giang đã xây dựng một loạt các tổ chức cơ sở Đảng ở khắp miền Hậu Giang. Lực lượng quần chúng ngày càng tập hợp đông đảo dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần quan trọng trong việc tiến tới thống nhất Đảng thành một tổ chức Đảng duy nhất để lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.

Sau khi ba tổ chức Đảng trong nước được thống nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam, Đặc ủy Hậu Giang trực thuộc Xứ ủy Nam kỳ. Trong điều kiện thuận lợi đã thống nhất Đảng, Đặc ủy Hậu Giang càng nỗ lực hoạt động hơn, nhiều chi bộ cơ sở được phát triển, phong trào cách mạng dâng lên mạnh mẽ.

Tháng 4/1930, do yêu cầu bảo đảm bí mật, an toàn cho cơ sở, Đặc ủy Hậu Giang được chuyển qua tỉnh Sa Đéc, tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng ở miền Hậu Giang phát triển theo từng chặng đường của cách mạng.

Đặc ủy Hậu Giang đã đặt nền tảng đầu tiên trong việc xây dựng tổ chức cơ sở Đảng ở các tỉnh miền Hậu Giang, các đồng chí trong Đặc ủy đã đi sâu sát vào quần chúng nhân dân xây dựng lực lượng và phát triển phong trào cách mạng đi đến thắng lợi. Với ý nghĩa lịch sử đó, ngày 25/01/1991, Cơ quan Đặc ủy An Nam Cộng sản Đảng Hậu Giang (1929 – 1930) đã được Bộ Văn hóa – Thông tin – Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 154-QĐ xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia.

Cần Thơ có gì? Bạn đang muốn tìm một nơi để giải tỏa tâm hồn nhưng chưa biết đi đầu thì hãy đến với Cần Thơ – chuyến hành trình tại đây hứa hẹn sẽ mang đến cho bạn nhiều trải nghiệm thú vị. Tạm quên những điểm du lịch nổi tiếng trước đó và thử đặt chân đến đây xem sao nhé.

5/5 - (3 bình chọn)

Trả lời

Your email address will not be published.