Phú Thọ có gì?

Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, được coi là vùng đất tổ cội nguồn của đất Việt. Với bản sắc văn hoá dân tộc gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước từ thời Hùng Vương, với trên 200 di tích lịch sử, cách mạng và nơi đây hiện đang lưu giữ hàng nghìn di sản văn hóa và danh lam thắng cảnh độc đáo. Phú Thọ có gì? Hãy cùng chúng tôi khám phá những địa điểm di tích, thắng cảnh đẹp tại Phú Thọ trong bài viết sau đây nhé.

1 Khu Di tích lịch sử Đền Hùng – Phú Thọ

Khu Di tích lịch sử Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích – xã Hy Cương – thành phố Việt Trì – tỉnh Phú Thọ, là nơi thờ cúng các vua Hùng đã có công dựng nước, tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Đền Hùng cách trung tâm thành phố Việt Trì 7km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 90km. Từ Hà Nội, du khách có thể đến Đền Hùng bằng đường bộ theo quốc lộ 2 hoặc tuyến đường sắt Hà NộiLào Cai.

Khu Di tích lịch sử Đền Hùng - Phú Thọ
Khu Di tích lịch sử Đền Hùng – Phú Thọ

Đền Hùng là di tích lịch sử văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia, được xây dựng trên núi Hùng – thuộc đất Phong Châu – vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Toàn bộ Khu di tích có 4 đền, 1 chùa và 1 lăng hài hoà trong cảnh thiên nhiên, có địa thế cao rất ngoạn mục, hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thuỷ hội tụ.

Đền Hùng được xây dựng trên núi Hùng (còn gọi là núi Cả theo tiếng địa phương hay còn có nhiều tên gọi khác nhau: Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn,…), có độ cao 175m so với mặt nước biển. Tục truyền rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam , mình rồng uốn khúc thành núi Vặn, núi Trọc, núi Pheo,…. Núi Vặn cao 170m, xấp xỉ núi Hùng. Núi Trọc nằm giữa núi Hùng và núi Vặn, cao 145m. Theo truyền thuyết. đây là ba đỉnh “Tam sơn cấm địa” được dân gian thờ từ rất lâu đời.

Toàn khu di tích Đền Hùng xưa kia là rừng già nhiệt đới, đến nay chỉ còn núi Hùng là rậm rạp xanh tươi với 150 loài thảo mộc thuộc 35 họ, trong đó còn sót lại một số cây đại thụ như chò, thông, lụ,…và một vài giống cây cổ sơ như kim giao, thiên tuế,..

Từ chân núi, du khách sẽ được chiêm ngưỡng lần lượt các di tích kiến trúc như:

Cổng đền

Khu Di tích lịch sử Đền Hùng - Phú Thọ
Cổng đền

Được xây dựng vào năm Khải Định thứ 2 (1917). Cổng xây kiểu vòm cuốn cao 8,5m, hai tầng 8 mái, lợp giả ngói ống. Tầng dưới có một cửa vòm cuốn lớn, đầu cột trụ cổng tầng trên có cửa vòm nhỏ hơn, 4 góc tầng mái trang trí Rồng, đắp nổi hai con Nghê. Giữa cột trụ và cổng đắp nổi phù điêu hai võ sỹ, một người cầm giáo, một người cầm rìu chiến, mặc áo giáp, ngực trang trí hổ phù. Giữa tầng một có đề bức đại tự: “Cao sơn cảnh hành” (lên núi cao nhìn xa rộng). Còn có người dịch là “Cao sơn cảnh hạnh” (Đức lớn như núi cao). Mặt sau cổng đắp hai con hổ là hiện thân vật canh giữ thần.

Đền Hạ

Tương truyền nơi đây, Mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con trai, nguồn gốc “đồng bào” (cùng bọc) được bắt nguồn từ đây. Dấu tích giếng “Mắt Rồng” là nơi mẹ Âu Cơ ấp trứng nay vẫn còn ở phía sau đền.

Đền Hạ
Đền Hạ

Đền Hạ được xây dựng lại trên nền đất cũ vào thế kỷ XVII – XVIII. Kiến trúc kiểu chữ “nhị” gồm hai toà tiền bái và hậu cung, mỗi toà ba gian, cách nhau 1,5m. Kiến trúc đơn sơ kèo cầu suốt, bẩy gối vào đầu kèo làm cho mái sau dài hơn mái trước. Đốc xây liền tường với đốc Hậu cung, hai bên đắp phù điêu, một bên voi, một bên ngựa. Bờ nóc phẳng, không trang trí mỹ thuật. Mái lợp ngói mũi, địa phương gọi là ngói mũi lợn.

Ngay chân Đền Hạ là Nhà bia với kiến trúc hình lục giác, có 6 mái. Trên đỉnh có đắp hình nậm rượu, 6 mái được lợp bằng gạch bìa bên trong, bên ngoài láng xi măng, có 6 cột bằng gạch xây tròn, dưới chân có lan can. Trong nhà bia trước đây đặt tấm bia ghi lại việc tu sửa đường lên núi Hùng, hiện nay đặt bia đá, nội dung ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng ngày 19/9/1945:

“Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

Gần Đền Hạ có một ngôi chùa, xưa có tên là Sơn cảnh thừa long tự, sau đổi là Thiên quang thiền tự. Chùa được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, gồm các nhà: tiền đường (5 gian), thiêu hương (2 gian), tam bảo (3 gian) ở phía trước, dãy hành lang, nhà Tổ ở phía sau. Các toà được làm theo kiểu cột trụ, quá giang gối đầu vào cột xây, kèo suốt. Mái chùa được lập ngói mũi, đầu đao cong. Bờ nóc tiền đường đắp lưỡng long chầu nguyệt. Chùa thờ Phật theo phái Đại thừa.

Trước cửa chùa có cây thiên tuế là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với cán bộ và chiến sĩ Đại đoàn quân tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Trước sân chùa có 2 tháp sư hình trụ 4 tầng. Trên nóc đắp hình hoa sen. Lòng tháp xây rỗng, cửa vòm nhỏ. Trong tháp có bát nhang và tấm bia đá khắc tên các vị hoà thượng đã tu hành và viên tịch tại chùa.

Chùa còn có một gác chuông được xây dựng vào thế kỷ XVII, gồm 3 gian, 2 tầng mái, 4 vì kèo cột kiểu chồng giường kết hợp với bẩy lẻ. Các bẩy lẻ hầu như để trơn không chạm trổ gì. Trên gác chuông có treo quả chuông, không ghi niên đại đúc chuông mà chỉ ghi: “Đại Việt quốc, Sơn Tây dạo Lâm Thao phủ, Sơn Vi huyện, Hy Cương xã, Cổ Tích thôn cư phụng”. Qua đó có thể đoán quả chuông được đúc thời Hậu Lê.

Đền Trung (Hùng Vương Tổ miếu)

Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn ngắm cảnh thiên nhiên và họp bàn việc nước. Nơi đây vua Hùng thứ 6 đã nhường ngôi cho Lang Liêu – người con hiếu thảo vì đã có công làm ra bánh chưng, bánh dày.

Đền Trung (Hùng Vương Tổ miếu)
Đền Trung (Hùng Vương Tổ miếu)

Đền được xây theo kiểu hình chữ nhất, có 3 gian quay về hướng nam, dài 7,2m, rộng 3,7m. Mái hiên cao 1,8m, không có cột kèo, cầu quá giang gối vào tường, bít đốc tường hậu, phía trước mở 3 cửa.

Đền Thượng và Lăng Hùng Vương

Đền Thượng được đặt trên đỉnh núi Hùng. Tương truyền rằng thời Hùng Vương, Vua Hùng thường lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh để tiến hành nghi lễ tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh. Tục truyền đây còn là nơi vua Hùng thứ 6 lập đàn cầu trời ban cho người tài ra giúp nước đánh giặc Ân. Sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc và bay về trời, vua Hùng cho lập đền thờ vọng trên đỉnh núi, về sau, nhân dân đặt thêm bài vị vua Hùng vào thờ cúng. Đền Thượng có tên chữ là “Kính thiên lĩnh điện” (Điện cầu trời) còn có tên là “Cửu trùng tiên điện” (Điện giữa chín tầng mây). Trong Đền Thượng có bức đại tự đề “Nam Việt triệu tổ” (Tổ khai sáng nước Việt Nam). Đền được làm kiểu chữ Vương, kiến trúc đơn giản, kèo cầu, không có chạm trổ, được xây dựng qua bốn cấp khác nhau gồm: nhà chuông trống (cấp I), đại bái (cấp II), tiền tế (cấp III) và hậu cung (cấp IV).

Đền Thượng và Lăng Hùng Vương
Đền Thượng và Lăng Hùng Vương

Bên phía tay trái Đền có một cột đá thề, tương truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương. Cột đá cao 1,3m, rộng 0,3m, hình vuông. Đến năm 1968, Ty Văn hoá Vĩnh Phú tôn tạo lên bệ như hiện nay.

Lăng Hùng Vương tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm ở phía đông Đền Thượng, có vị trí đầu đội sơn, chân đạp thủy, mặt quay theo hướng Đông Nam. Xưa là mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây mộ dựng lăng. Thời Khải Định tháng 7 (1922) trùng tu lại. Lăng hình vuông, cột liền tường, có đao cong 8 góc, tạo thành 2 tầng mái. Tầng dưới 4 góc đắp 4 con rồng tư thế bò, tầng trên đắp rồng uốn ngược, đỉnh lăng đắp hình “quả ngọc” theo tích “cửu long tranh châu”. Mái đắp ngói ống, cổ diêm, 3 phía đều đắp mặt hổ phù. Ba mặt Tây, Đông, Nam đều có cửa vòm, 2 bên cửa đều đắp kỳ lân, xung quanh có tường bao quanh, trang trí hoa, chất liệu bằng đá. Trong lăng có mộ Vua Hùng. Mộ xây hình hộp chữnhật dài 1,3m, rộng 1,8m, cao 1,0m. Mộ có mái mui luyện. Phía trong lăng có bia đá ghi: Biểu chính (lăng chính). Phía trên ba mặt lăng đều có đề: Hùng Vương lăng (Lăng Hùng Vương).

2 Vườn quốc gia Xuân Sơn – Phú Thọ

Nằm ở điểm cuối cùng của dãy Hoàng Liên Sơn, Vườn quốc gia Xuân Sơn có diện tích vùng lõi 15.048ha và 18.639ha vùng đệm, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 9.099ha, phân khu phục hồi sinh thái 5.737ha, phân khu dịch vụ – hành chính 212ha; trải rộng trên địa bàn các xã Xuân Sơn, Đồng Sơn, Tân Sơn, Lai Đồng, Kim Thượng, Xuân Đài, thuộc huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Vườn quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ
Vườn quốc gia Xuân Sơn – Phú Thọ

Vườn quốc gia Xuân Sơn là vườn quốc gia duy nhất có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi (2.432ha). Ở độ cao trên 1000m cùng môi trường ẩm ướt quanh năm, lại nhiều tầng rừng phong phú, Vườn quốc gia Xuân Sơn rất phù hợp cho việc phát triển cho các loài cây lâu năm như: Chò trắng, dẻ, sồi và mộc lan chiếm ưu thế. Ngoài ra, còn có các loài tiêu biểu cho khu vực Tây Bắc như: táu muối, táu lá duối, chò chỉ, nghiến, vầu đắng… Đặc biệt, có những cây tuổi đời hàng nghìn năm, ở ngay trong các xóm có người dân sinh sống và được bảo vệ an toàn. Bên cạnh đó, Xuân Sơn còn là cánh rừng phong phú của các loài cây làm thuốc với 665 loài và cây ăn quả hoặc làm rau ăn với 132 loài. Khí hậu Xuân Sơn thích hợp cho sự phát triển của rau sắng, một loại cây quý, đem lại nguồn lợi kinh tế cao cho người dân bởi tất cả các bộ phận của cây đều có thể ăn hoặc dùng làm thuốc.

Vườn quốc gia Xuân Sơn là nơi cư ngụ của khoảng 880 loài động vật, trong đó có 46 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam và 18 loài ghi trong sách đỏ Thế giới. Nhiều loài đặc trưng cho hệ động vật Tây Bắc như: Voọc xám, vượn chó, cày bạc má, sóc bụng đỏ đuôi trắng, gấu, báo, gà lôi, gà tiền, đại bàng đất… riêng sơn dương có nhiều nhất toàn quốc.

Vườn quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ
Vườn quốc gia Xuân Sơn – Phú Thọ

Ngoài sức hấp dẫn của hệ động thực vật phong phú, Xuân Sơn còn có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Nằm trong quần thể vườn quốc gia Xuân Sơn có ba đỉnh núi cao trên 1.000m là: Núi Voi, núi Ten và núi Cẩn với hàng trăm hang động; sông suối và nhiều thác nước có độ cao trên 50m, che phủ hang, hốc đá, hoà quyện màu thác bạc với màu xanh của rừng già làm cho phong cảnh vừa hùng vĩ vừa thơ mộng.

Với hệ động, thực vật phong phú, nhiều người ví Xuân Sơn như một cánh rừng vàng nơi tận cùng của dãy Hoàng Liên Sơn. Muốn khám phá hết vẻ đẹp của Vườn quốc gia Xuân Sơn, du khách cũng phải mất tới vài ngày đi rừng. Với những ai yêu thích thiên nhiên và ưa thích khám phá mạo hiểm thì Vườn quốc gia Xuân Sơn là điểm hẹn tuyệt vời. Nơi đây không chỉ có núi cao cheo leo mà còn rất nhiều hang, thác, suối… phù hợp với phát triển du lịch sinh thái.

Hệ thống hang động rất đồ sộ gồm những hang khá nổi tiếng như: Hang Lạng, hang Thổ Thần, hang Na ẩn sâu trong rừng già với nhiều thạch nhũ hình thù bắt mắt. Ðộng Tiên là một hang ngầm trong lòng núi đá cẩm thạch dài 10km. Trong hang có đường thông gió lên thẳng đỉnh núi, làm cho không khí trong lành mát dịu.

Một ngày ở Xuân Sơn khí hậu thay đổi 4 mùa: buổi sáng mát mẻ, trong lành như mùa xuân; buổi trưa ấm áp như mùa hè; buổi chiều hiu hiu như mùa thu; buổi tối trời se lạnh. Cảnh đẹp núi rừng Xuân Sơn làm mê hoặc nhiều khách du lịch. Với tiềm năng du lịch to lớn thuận lợi để phát triển nhiều loại hình du lịch, Xuân Sơn đang là điểm thu hút du khách trong và ngoài nước.

3 Ao Giời – Suối Tiên – Phú Thọ

Ao Giời – Suối Tiên nằm trên Núi Nả thuộc xã Quân Khê – huyện Hạ Hoà, cách thành phố Việt Trì 80 km về phía Tây Bắc, cách Ao Châu 15 km, có ưu thế là liền kề với hệ thống đường bộ, đường thuỷ, đường sắt.

Ao Giời - Suối Tiên - Phú Thọ
Ao Giời – Suối Tiên – Phú Thọ

Đường tới Ao Giời – Suối Tiên hai bên có hàng trăm đỉnh núi lớn, nhỏ có độ cao trung bình từ 500-600 m so với mặt biển. Với đỉnh cao 1.200m, núi Nả cao vượt lên sừng sững, trông thật hùng vĩ như điểm tựa của miền thượng vùng trung du rộng lớn, được phủ một màu xanh dày đặc của các loài cây nhiệt đới, chen chúc nhau tầng tầng, lớp lớp với khá nhiều loài cây quí hiếm như đinh, lim, gụ, vàng tâm… Trong rừng còn có các bầy khỉ, nai, hoẵng, lợn rừng, cầy hương…

Suối Tiên bắt nguồn từ trên núi Nả, chảy qua các khe đá, hình thành dải lụa trắng bạc, vắt ngang sườn núi, nổi bật giữa màu xanh mượt mà của núi rừng, lẫn vào màu xanh của mây trời, làm cho cảnh trí càng sinh động, kỳ ảo, cảnh tượng vừa gần gũi, vừa sâu thẳm, vừa rõ ràng, vừa huyền bí thơ mộng làm xao xuyến lòng người.

Ao Giời - Suối Tiên - Phú Thọ
Ao Giời – Suối Tiên – Phú Thọ

Với chiều dài hơn 10 km, lòng suối dày kín lớp sỏi đá và cát vàng làm cho nước suối được thanh lọc tinh khiết, trong vắt, lấp lánh ánh mặt trời phản chiếu. Đầu nguồn của con suối có Giếng Tiên, diện tích chừng 40m2, sâu đến hơn 10m. Từ đáy giếng, dòng nước phun lên mát lạnh, ngọt ngào tạo thành Suối Tiên. Suối Tiên quanh co chảy qua nhiều tầng, bậc tạo nên nhiều thác nước thẳng đứng. Suốt chiều dài con suối có tới 14 thác nước, trong đó có một số thác cao 20m, tựa những tấm màn the trắng xoá, che các hang, hốc đá phía trong. Dưới chân các thác nước cao là những phiến đá khổng lồ, trải qua thời gian dài bị xói mòn, đã thành những chiếc ao nhỏ mà đáy ao là cả một phiến đá, làm nên vẻ đẹp riêng có ở nơi đây.

Theo truyền thuyết: “xưa kia chỉ có Giếng Tiên, hàng ngày có các nàng tiên thường tới đây tắm mát, Ngọc Hoàng đã cho nước giếng dâng lên tạo thành các thác nước đổ xuống, lâu dần tạo thêm các ao. Ai được tắm ở Ao Giời – Suối Tiên trong 3 năm sẽ có làn da trắng mịn như ngọc, khuôn mặt sáng đẹp như trăng rằm, tâm hồn thư thái, sáng láng”. Có lẽ, chính vì vậy Suối Tiên có sức hấp dẫn lạ kỳ, nhất là vào các ngày hè nóng nực, thường có hàng trăm lượt người đến đây tắm mát, nghỉ ngơi, vãn cảnh.

Ao Giời – Suối Tiên còn nguyên dạng hoang sơ, có tiềm năng du lịch dồi dào, có thể phát triển các loại hình leo núi, cắm trại, nghỉ dưỡng và nghiên cứu khoa học.

4 Đền Mẫu Khuôn – Phú Thọ

Đền Mẫu Khuôn ở phố Sa Đéc, phường Hùng Vương, thị xã Phú Thọ, xưa kia gọi là xóm Khuôn, động Phú An rồi làng Phú An (tức làng Mè), tỉnh Phú Thọ. Đền Mẫu Khuôn thờ bà mẹ nuôi Kiều Công Thuận từ thuở xã xưa cách ngày nay hàng ngàn năm.

Đền Mẫu Khuôn - Phú Thọ
Đền Mẫu Khuôn – Phú Thọ

Kiều Công Thuận (tức Kiều Thuận) làm quan dưới vương triều Ngô Quyền, sau khi chết, vào năm 970 được vua Đinh Tiên Hoàng ban sắc truy phong là “Cương nghị đại vương thượng đẳng thần”, được lập đền thờ ở làng Trù Mật (nay thuộc xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ). Đền Trù Mật còn gọi là đền Lăng vì là nơi mất và nơi yên nghỉ cuối cùng của Kiều Công Thuận. Đền thờ Kiều Công Thuận đã được Bộ Văn hóa – thông tin công nhận năm 1999.

Theo sách “Lịch sử Việt nam” nhà xuất bản Khoa học xã hội 1971, sách “Lịch sử 100 năm thị xã Phú Thọ” nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2002 và sách “Văn nghệ dân gian Phú Thọ” Sở văn hóa xuất bản 1999 và tục truyền rằng: Kiều Công Thuận là thủ lĩnh xứ quân ở thành Hồi Hồ (Cẩm Khê) thường sang hội kiến với Ma Xuân Trường là động trưởng Phú An (thị xã Phú Thọ ngày nay) để an dân dựng nghiệp. Mỗi lần sang Phú An hội kiến, Kiều Công Thuận phải dừng chân ở xóm Khuôn để chờ thuyền của động trưởng ra đón. Kiều Công Thuận đã được hai mẹ con bà cụ ở xóm Khuôn, người họ Ma vai vế thân thích với Ma Xuân Trường hết lòng giúp đỡ. Kiều Công Thuận đã nhận bà cụ họ Ma này là mẹ nuôi và con gái bà cụ là em nuôi.

Sau khi mẹ nuôi Kiều Công Thuận qua đời, dân làng Phú An đã lập đền thờ bà tại xóm Khuôn; còn người em nuôi sau khi mất, dân làng lập miếu thờ gọi là “Miếu cô”, cách đền Mẫu Khuôn khoảng 30 mét. Nơi Kiều Công Thuận chờ thuyền động trưởng, dân làng Phú An dựng đình Nhạp (còn gọi là đình Lập) để thờ vọng Kiều Công Thuận, cũng tại xóm Khuôn này.

Đền Mẫu Khuôn - Phú Thọ
Đền Mẫu Khuôn – Phú Thọ

Đền Mẫu Khuôn khi mới dựng bằng bương, tre, gỗ, lá, qua nhiều lần trùng tu tôn tạo đến năm 1943 trở thành một ngôi đền cao, to, rộng rãi, bề thế nhất vùng. Đền có phần đại bái và hậu cung. Đại bái có cột gỗ cao, to, mái lập ngói, hậu cung đổ mái bằng kiên cố. Xung quanh đền có hai cây đa to cành lá xum xuê, rễ buông tua tủa, một cây hoa Ngọc Lan và một cây Móng Rồng tỏa hương thơm ngát, một cây khế lá xanh quanh năm, hoa tím rực rỡ, quả sai trĩu cành.

Hàng năm, dân làng Phú Thọ làm lễ cầu mở hội ở đền Trù Mật vào ngày 18 tháng Hai và mồng 10 tháng Mười âm lịch đều phải rước kiệu Bát Cống từ đền Trù Mật lên đền Mẫu Khuôn xin chân nhang, rồi rước Kiệu Võng đền Mẫu Khuôn và kiệu Bát Cống về đền Lăng trước khi chính thức làm lễ tế thần, với ý nghĩa là đón mẹ và em nuôi cùng về dự lễ chung vui với Đức đại vương Kiều Công Thuận và dân làng, thể hiện đạo lý thủy chung, uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta.

Ngôi đền Mẫu Khuôn xưa đã bị phá hủy từ năm 1952, khi giặc Pháp tấn công lên thị xã Phú Thọ, nhưng còn lại cây khế đại cổ thụ hàng trăm năm tuổi là cổ tích rất quý giá của đền.

Miếu Cô nay cũng không còn nữa, nhưng còn lại cây Si đại cổ thụ bên cạnh miếu có đến hơn ngàn năm tuổi là chứng tích lịch sử muôn đời và là cây cổ thụ lâu nhất của thị xã, cùng với đền Mẫu Khuôn tạo thành cụm di tích lịch sử – văn hóa tâm linh của tỉnh lỵ Phú Thọ xưa.

Tìm hiểu ý nghĩa lịch sử – văn hóa tâm linh của đền Mẫu Khuôn, nên từ năm 2000 đến nay, anh Đặng Quang Tuấn quê gốc ở Kinh Kệ – Lâm Thao, gia đình lên ở thị xã Phú Thọ từ lâu đời đã mua lại nhà và đất ở khu đền Mẫu Khuôn, rồi đầu tư trí tuệ, công sức và tiền bạc của mình và chủ yếu là tiền công đức của khách thập phương và địa phương đến hành lễ, khôi phục lại di tích ngôi đền xưa trên nền đất cũ, to cao, rộng rãi, khang trang đẹp đẽ, trông rất hoành tráng nhất vùng, với diện tích nội thất khoảng 210 mét vuông. Đền có hậu cung, đại bái, cột gỗ cao, to, sơn son, tường đắp thiên hoa, tiền kẻ hậu bảy, mái lợp ngói mũi kiểu cổ. Nền nhà và sân đền đều lát gạch Bát Tràng màu đỏ au. Cổng đền xây cao to, rộng, tám mái trồng diên. Đồ thờ trong đền phong phú, sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Xung quanh đền cây cảnh trông rất hấp dẫn.

Từ mấy năm nay, nhất là ngày rằm, mồng một hàng tháng, khách thập phương từ Hà Nội, Việt Trì cùng nhiều nơi khác và đồng bào địa phương thường xuyên đến hành lễ, vãn cảnh đền Mẫu Khuôn. Ngày 10 và 11 tháng 9 âm lịch năm nay, thủ từ đền Mẫu Khuôn đã làm lễ nhập trạch, hoàn thành phần tôn tạo mở rộng ngôi đền có đến hơn ngàn khách thập phương từ phủ Tây Hồ (Hà Nội) cùng các nơi và đồng bào địa phương tấp nập đổ về dự lễ thật đông vui, sống động những nét đẹp văn hóa tâm linh.

5 Quần thể di tích Làng cổ Hùng Lô – Phú Thọ

Làng Cổ Hùng Lô nằm bên bờ sông Lô thơ mộng, cách trung tâm thành phố Việt Trì khoảng 5km. Quần thể di tích lịch sử văn hóa Đình Hùng Lô (Đình Xốm) được xây dựng trên dải đất rộng 5000m2. Trung tâm của trang Khả Lãm cổ xưa, rồi mang tên xã An Lão nay là xã Hùng Lô.

Quần thể di tích Làng cổ Hùng Lô - Phú Thọ
Quần thể di tích Làng cổ Hùng Lô – Phú Thọ

Miếu (ngôi miếu cổ thờ Vua Hùng thứ 18) được xây dựng không rõ vào niên đại nào. Theo cuốn “An lão thần tích” và truyền thuyết để lại “Vua Hùng cùng công chúa cưỡi ngựa hồng và các quần thần thường đi tuần du ngoại cảnh và săn thú, dừng chân nghỉ đến Trang Khả Lãm (tên gọi cổ của Hùng Lô), thấy đất này mầu mỡ, cây mọc xanh tươi lại có huyệt thiên tạo, hướng giáp canh có khí thiêng từ lòng đất bốc lên. Vua cho nơi này là chốn địa linh” kêu gọi dân đên khai hoang. Vùng đất Hùng Lô cũng từ đó ngày một đông dân cư. Sau đời Hùng Vương dân dựng miếu thờ để đời đời hương khói nhớ ơn vương tổ. Từ đó nhân dân trong ấp làm ăn phát đạt, ngôi miếu ngày càng linh thiêng.

Cũng theo truyền thuyết, khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa hành quân đi đánh giặc phương Bắc xâm lược. Qua đây Hai Bà xuống voi vào miếu dâng hương cầu nguyện quyết tâm đánh thắng giặc trở về sẽ tôn tạo xây dựng miếu đường. Hai tích ấy còn được ghi lại hai đốc tam quan trước cửa miếu…

Quần thể di tích Làng cổ Hùng Lô - Phú Thọ
Quần thể di tích Làng cổ Hùng Lô – Phú Thọ

Đình được xây dựng vào thời hậu Lê, đời vua Lê Hy Tông. Khu đình được kiến trúc các hạng mục công trình gồm có tòa Đại Đình, Phương đình, Lầu chuông, Lầu trống và nhà Tiền Tế, tất cả được làm bằng vật liệu gỗ quý như Đinh, lim, sến, táu, thông mật và mít. mái lợp ngói mũi hài. Những giá trị nghệ thuật điêu khắc đỉnh cao đặc trưng thời Hậu Lê trên gỗ, gốm, chủ yếu tập trung tại tòa Đại đình.

Tòa đại đình được cấu trúc theo nhà cổ truyền 3 gian hai trái. Bố trí nội thất thờ cúng cả 3 gian đều có ban thờ. Các đồ thờ cúng được làm bằng gốm, bằng đồng, bằng gỗ đều được trạm trổ nghệ thuật tinh xảo đường nét hoa văn sắc gọn, hài hòa. Đến nay còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý. Có thể nói Đình làng Hùng Lô là một nhà bảo tàng văn hóa nghệ thuật của toàn dân đóng góp còn lưu giữ nguyên vẹn đến ngày nay.

6 Đầm Ao Châu – Phú Thọ

Cách thành phố Việt Trì 65km về phía Tây Bắc, Đầm Ao Châu (huyện Hạ Hòa) còn mang đậm nét nguyên sơ, với cảnh quan thiên nhiên sơn thủy hữu tình được ví như một tiểu Hạ Long của tỉnh Phú Thọ, một ao ngọc giữa vùng đất Tổ linh thiêng…

Đầm Ao Châu - Phú Thọ
Đầm Ao Châu – Phú Thọ

Nằm giữa vùng núi đồi thấp trung du Tây Bắc bộ, trải rộng trên diện tích chừng 1.500ha với thảm thực vật phong phú, Đầm Ao Châu là món quà vô giá từ thiên nhiên dành cho vùng đất Phú Thọ. Tương truyền trong khi đi tìm đất định đô, Vua Hùng và quần thần nước Văn Lang đã đặt chân đến vùng đất có 99 ngọn đồi cùng 99 ngách nước. Trong khi đang chiêm ngắm cảnh đẹp nơi đây, họ tình cờ được mục kích cảnh hai con trâu vàng đang giao đấu quyết liệt, rồi bỗng dưng cả hai cùng lặn xuống nước biến mất. Từ đó đầm được gọi là hồ Kim Ngưu (Trâu Vàng).

Có lẽ xuất phát từ huyền thoại “Trâu Vàng” và thực tế bên trong là đầm nhưng bên ngoài cũng còn những ngách nhỏ tạo thành ao rải rác, kết hợp thành quần thể mang hình dáng một đầu trâu với hai sừng choãi ra hai phía sông Thao và sông Lô mà người đời sau đã gọi hồ Trâu Vàng bằng cái tên khá chi tiết: “Đầm Ao Châu” (trong cách phát âm của cư dân địa phương, “trâu” bị đọc trại thành “châu”).

Là một huyện miền núi phía Bắc tỉnh Phú Thọ, lại được điều tiết bởi Đầm Ao Châu nên huyện Hạ Hòa nói chung và Đầm Ao Châu nói riêng sở hữu khí hậu miền núi Tây Bắc bộ, mát mẻ với lượng mưa trung bình khoảng 1.850mm/năm, nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 23°C.

Đầm Ao Châu - Phú Thọ
Đầm Ao Châu – Phú Thọ

Đầm Ao Châu có diện tích mặt nước gần 300ha, độ sâu trung bình 4 – 5m, nơi sâu nhất trên 30m. Phía Đông Nam của Đầm Ao Châu thông với sông Thao bằng ngòi Lửa Việt, phía Đông Bắc Đầm là dãy núi cao gồm các núi Ông, núi Vằn, núi Buộm, trong đó núi Buộm cao và đẹp nhất với đỉnh cao 665m so với mực nước biển. Trong Đầm có chừng 100 hòn đảo lớn, nhỏ, dàn trải khắp mặt đầm với hệ thực vật đa loài, dày đặc…

Địa hình đồi núi đã tạo nên hàng trăm ngách nước luồn lách giữa các khu vực, nhiều con suối đẹp đổ nước xuống đầm. Nhờ tích nước bốn mùa đã tạo điều kiện cho các thảm thực vật tự nhiên phát triển, chủ yếu là lau, sậy, nứa, chè và các bụi cây thấp…; một số đồi về sau được phủ bởi bạch đàn, bồ đề, thông và các loại cây ăn quả như vải, nhãn, mít, bưởi…

Theo khảo sát của các nhà chuyên môn thì khu vực Ao Châu có hệ sinh thái động thực vật đa dạng, phong phú với 702 loài thực vật trong đó có 86 loài gỗ như: chò chỉ, chò nâu, lim xanh, sến, táu, lát hoa…; có 332 loài làm thuốc chữa bệnh; 47 loài sử dụng làm rau ăn; về động vật có 22 loài thú, 71 loài chim. Ao Châu có 29 loài cá, nhiều nhất là cá chép, cá trắm, cá măng, cá mè, cá trạch, cá ngạnh… Đặc biệt trong hồ còn có các loài rùa, ba ba…

Muốn bao quát toàn cảnh Ao Châu phải leo lên ngọn núi cao nhất có tên là núi Buộm với độ cao gần 700m so với mực nước biển. Từ trên núi Buộm dõi xuống, toàn cảnh hồ nước 99 ngách len lỏi giữa trập trùng những quả đồi cao, thấp. Đầm nước bao quanh khiến cho mỗi ngọn đồi ở đây trở thành những hòn đảo nhỏ. Hình thù, dáng vẻ, độ cao thấp của mỗi đảo đồi mỗi khác, cũng vì vậy mà vẻ đẹp “sơn thủy hữu tình” càng trở nên độc nhất vô nhị.

7 Đền Tam Giang – Phú Thọ

Đền Tam Giang thuộc địa phận phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, nằm tĩnh lặng bên dòng sông Lô cuồn cuộn. Vào giữa thế kỷ VII, đền là một đạo quán Thông Thánh để tưởng nhớ tổ tiên và tôn thờ các anh hùng gắn liền với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Đền Tam Giang - Phú Thọ
Đền Tam Giang – Phú Thọ

Lịch sử ghi lại rằng, trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông ở thế kỷ XIII, triều đình nhà Trần đã nhiều lần chọn ngã ba Bạch Hạc làm nơi huấn luyện quân sĩ. Vào ngày Tết Thượng nguyên năm Ất Dậu (1285), tướng quân Trần Nhật Duật đã cắt tóc thề với thần linh, tổ tiên nguyện đem hết lòng trung thành để báo ơn vua rồi chỉ huy binh sĩ ra trận, kiên cường mưu trí ngăn cản bước tiến công và tiêu hao sinh lực địch, góp phần vào chiến thắng oanh liệt của quân dân nhà Trần năm 1287. Để bày tỏ lòng biết ơn công lao của vị anh hùng dân tộc, người dân nơi đây đã tôn thờ ông trong đền Tam Giang.

Xuất phát từ tín ngưỡng Tam Phủ – một tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt cổ, trong đền Tam Giang thờ các nữ thần tự nhiên như: Mẫu Thoải – cai quản sông nước, Mẫu Thượng Ngàn – cai quản núi rừng, Mẫu Cửu Trùng – cai quản bầu trời. Bên cạnh đó, trong đền còn thờ một nhân vật lịch sử huyền thoại Vũ phụ Trung dực Uy Hiển Vương – húy là Thổ Lệnh – được người dân coi như thần làng, thần sông Bạch Hạc. Tôn kính, bái vọng các vị thần linh đó, dân làng Bạch Hạc khát vọng và mong muốn có một cuộc sống an lành, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi.

Sau bao thế kỷ bị thời gian và chiến tranh bào mòn, tàn phá, đền Tam Giang đã qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo mới có được vóc dáng và kiến trúc đẹp lỗng lẫy như ngày nay. Nằm trong khuôn viên rộng hơn 1000m2, ngôi đền ở vị trí đắc địa, phía trên là trời mây thoáng đãng, xung quanh là non nước bao la và phong cảnh sơn thủy hữu tình.

Đền Tam Giang - Phú Thọ
Đền Tam Giang – Phú Thọ

Ngôi đền quay ra sông, nhìn theo hướng Tây Bắc thấy núi Nghĩa Lĩnh – nơi thờ các đức Quốc tổ Hùng Vương. Với lối kiến trúc kiểu chữ “đinh”, đền gồm hai tòa tiền tế và hậu cung, nhà 4 mái, đao cong, có hai tòa tiền tế và hậu cung, nội thất chạm các bộ tứ quý như “long, ly, quy, phượng”, “tùng, trúc, cúc, mai”, các nét chạm trổ hết sức tinh tế toát lên vẻ đẹp linh thiêng, hoàn mỹ.

Trong đền Tam Giang có một chuông đồng “Thông Thánh quán chung ký” có niên đại Minh Mệnh năm thứ 11 và các bài minh chuông như: Thác bản chuông “Phụng Thái Thanh Từ” niên đại Gia Long năm thứ 17, “Thông Thánh Quán” niên đại Đại Khánh thứ 8, đời vua Trần Minh Tông. Đây là nguồn tư liệu lịch sử quý giá giúp các nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu nhiều mặt kinh tế, văn hóa, xã hội thời Trần.

Với những giá trị lịch sử to lớn đó, đền Tam Giang đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2010.

8 Đền Mẫu Âu Cơ – Phú Thọ

Nằm trên vùng đất địa linh nhân kiệt (xã Hiền Lương, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ), Đền Mẫu Âu Cơ là một công trình lịch sử văn hoá đặc biệt, là biểu tượng của tinh thần yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc. Hình tượng mẹ Âu Cơ sinh ra con Lạc cháu Hồng nước Việt trong một bọc trăm trứng đã trở thành hình tượng bất hủ sống mãi trong tư tưởng, tình cảm và tâm trí của các thế hệ người Việt Nam.

Đền Mẫu Âu Cơ - Phú Thọ
Đền Mẫu Âu Cơ – Phú Thọ

Tương truyền trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi, người con cả dừng ở đất Phong Châu dựng kinh đô Văn Lang cai quản đất nước truyền ngôi được 18 đời, gọi là các vua Hùng. 49 người con theo mẹ tiếp tục ngược thượng nguồn sông Thao, đến vùng Hiền Lương thấy sơn thuỷ hữu tình, đất đai tươi tốt bèn hạ trại khai hoang lập ấp, dạy cho dân làng nghề trồng lúa, nuôi tằm… Làng xóm từ đó ngày một trù phú, cư dân ngày càng đông đúc. Thấy muôn dân đã thạo nghề cày cấy, một ngày kia mẹ Âu Cơ cùng các tiên nữ bay về trời, vương lại một tấm lụa đào bên gốc đa giữa cánh đồng. Dân làng lập đền thờ tại đó để thờ mẹ, hàng năm mở hội đền vào mùng 7 tháng Giêng là ngày “Tiên giáng”…

Trong lịch sử tồn tại mấy ngàn năm, đền thờ Mẫu Âu Cơ đã ba lần được các triều đại nhà nước Việt Nam sắc phong. Lần thứ nhất dưới triều vua Lê Thánh Tông (1428-1527), nhà vua đã sai giám quốc sư lên Hạ Hoà phong thần và cấp tiền cho nhân dân tôn tạo đền Mẫu Âu Cơ. Dưới triều Nguyễn, năm 1874 vua Tự Đức sắc phong là đền thờ Quốc Mẫu. Ngày 3-8-1991 đền Mẫu Âu Cơ được Bộ VH-TT cấp bằng công nhận di tích lịch sử quốc gia.

Trải bao biến thiên của lịch sử, ngôi đền đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Lần trùng tu gần đây nhất vào năm 1991. Đền có năm gian hình chữ nhất (-), cột gỗ lom, mái lợp ngói vẩy. Cây đa cổ thụ sau đền cành lá xum xuê gần như bao phủ kín ngôi đền bé nhỏ. Pho tượng Quốc mẫu Âu Cơ cao 0,93m đặt trên ngai vị, hai tay đặt trên đầu gối, chân đi hài cong, đầu đội mũ lấp lánh kim cương, dáng hình hiền hậu và thanh tú. Toàn bộ tượng và ngai được đặt trong một khám cao 1,82m, xung quanh trạm trổ tùng, cúc, mai và rồng chầu mặt nguyệt. Các thành phần khác bằng gỗ trong đền đều được chạm trổ cầu kỳ và sơn son thếp vàng…

Lễ chính đền Mẫu Âu Cơ vào ngày 7-1, kéo dài trong ba ngày, sau khi tế nữ xong mới đến lễ Mẫu dâng hương sớ. Trong dịp này trước sân đền và tại đình làng có nhiều trò chơi dân gian địa phương như: cướp cờ, đánh phết, hát ghẹo, hát xoan… Đặc biệt có tục làm bánh vôi từ bột gạo nếp và nước mía là đặc sản ngon nổi tiếng của vùng Hạ Hoà. Nhân dân địa phương ai cũng thuộc câu ca truyền tụng nhiều đời:

Mùng bảy đang tiết tháng Giêng
Dân hiền tế lễ trống chiêng vang trời
Anh em Bách Việt ta ơi!
Ngày xuân thong thả tới nơi xem tường
Đây ngày hội tế Mẫu vương
Người sinh ra Tổ Hùng Vương nước nhà…

Đền Mẫu Âu Cơ - Phú Thọ
Đền Mẫu Âu Cơ – Phú Thọ

Đền Mẫu Âu Cơ nằm trong một quần thể có nhiều di tích lịch sử và công trình văn hóa. Cách đền 500m về phía Đông có đình thờ Đức Ông Đột Ngột Cao Sơn – Thánh Vương Nam Việt và hai tướng quân nổi tiếng của vua Hùng là Hùng Trấn Quý Minh và Hùng Trấn Bảo Quốc. Cách đó không xa về phía Tây là chùa Linh Phúc có quả chuông đồng đề bốn chữ lớn “Linh Phúc tự chung” và 20 pho tượng cổ. Vùng đất Hiền Lương còn có nhiều di tích khảo cổ thuộc nền văn hoá Sơn Vi như: Động Lâm, Ấm Thượng, Lang Sơn… Đặc biệt, Hiền Lương – Hạ Hoà là chiến khu văn hoá trong kháng chiến chống Pháp với di tích đền Cả, nơi ra đời Hội Nhà văn Việt Nam và trụ sở của nhiều cơ quan văn hoá nghệ thuật thời đó. Chiến khu Ngòi Vần – Hiền Lương vừa là một di tích cách mạng, vừa là một khu du lịch sinh thái rất lý tưởng. Tiếc là do đường sá cách trở nên thông thường du khách hành hương về Phú Thọ chỉ dừng chân ở khu vực đền Hùng ở Phong Châu…

9 Đền Lăng Sương – Phú Thọ

Di tích lịch sử Đền Lăng Sương đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia theo quyết định số 25/2005/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 12 tháng 7 năm 2005. Hiện nay, Di tích lịch sử Đền Lăng Sương thuộc Khu 6, xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Đền Lăng Sương - Phú Thọ
Đền Lăng Sương – Phú Thọ

Là ngôi Đền gắn liền với thời đại Hùng Vương dựng nước và giữ nước, Đền Lăng Sương thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương đến tham quan, bái lễ, nhất là dịp đầu năm và cuối năm (đầu năm đi bái lễ, cuối năm đi tạ lễ). Khi đến đây, du khách không chỉ cầu may mắn, bình an, hạnh phúc cho gia đình và người thân mà còn được trở về với nguồn cội dân tộc.

Đây cũng là ngôi đền duy nhất hiện nay thờ cả gia đình Thánh Tản Viên Sơn – một trong những vị thần được nhân dân tôn vinh là “thượng đẳng tôi linh” “đệ nhất phúc thần” đứng đầu “Tứ bất tử” trong tín ngưỡng dân gian thờ thần của người Việt đã có công giúp dân trị thủy, khai hóa đất hoang, dạy dân trồng lúa nước, giết thú dữ, dẹp giặc ngoại xâm. Đặc biệt, chính Tản Viên Sơn đã khuyên Vua Hùng Vương thứ 18 nhường ngôi cho Thục Phán để giữ tình đoàn kết, tránh nội chiến kéo dài không cần thiết rồi về núi Tản sống với vợ là Công chúa Ngọc Hoa. Với những công lao to lớn của Ngài, nhân dân đã lập đền thờ, quanh năm hương khói tri ân công đức.

Đền Lăng Sương - Phú Thọ
Đền Lăng Sương – Phú Thọ

Không chỉ là ngôi đền cổ kính với các cổ vật được bảo tồn và lưu giữ như Ngọc triện, Ngọc Phả mà các di vật về hòn Đá quỳ, giếng Thiên Thanh, hòn đá nén bụng, âu nước tắm, Miếu Hai cô… đã trở thành điểm nhấn linh thiêng riêng của Đền Lăng Sương. Hiện nay, hòn Đá quỳ hay còn gọi là phiến đá xanh vẫn còn in hình 2 bàn chân, bàn tay phải, đầu gối phải của Mẫu Đinh Thị Đen quỳ khi lên cơn đau sinh ra Thánh Tản Viên Sơn sau 14 tháng mang thai. Đặc biệt Giếng Thiên Thanh – nơi mà Mẫu lấy nước tắm cho Thánh Tản khi còn nhỏ tuy chỉ sâu 3m nhưng dù mùa nước hay mùa khô, giếng vẫn trong và đầy nước dù các giếng xung quanh cạn nước. Sự huyền bí, linh thiêng đó càng thu hút sự tò mò, hấp dẫn với du khách thập phương.

Điểm nhấn đặc biệt của Đền Lăng Sương là Giếng Thiên Thanh nơi có phiến Đá quỳ ngay cạnh. Cùng với đó là các di vật hiện nay vẫn được bảo tồn, lưu giữ là những điểm nhấn quan trọng hấp dẫn du khách đến tham quan và tìm hiểu lịch sử. Đền Lăng Sương hiện nay thờ 7 nhân thần gồm: Đức Thánh Mẫu, cố phụ Ngũ Cao Hành, dưỡng mẫu Ma Thị Cao Sơn, Tả viên Sơn Thánh, Ngọc Hoa công chúa – vợ Tản Viên cùng 2 tướng quan văn Cao Sơn, quan võ Quý Minh. Đây cũng là ngôi đền duy nhất trong cả nước hiện nay thờ cả gia đình Tản Viên Sơn Thánh.

Đền Lăng Sương - Phú Thọ
Đền Lăng Sương – Phú Thọ

Đền Lăng Sương hiện nay đã được tu bổ rất khang trang, khuôn viên rộng rãi nhưng vẫn giữ nguyên hiện trạng cũng như nét cổ kính, cơ bản đáp ứng nhu cầu tâm linh ngày càng cao của nhân dân. Hiện nay, Đền có 2 ngày chính trong năm là ngày 15 tháng giêng – kỷ niệm ngày sinh Thánh Tản và ngày 25 tháng 10 là ngày giỗ Thánh Mẫu…”

Về với Phú Thọ, nếu du khách chỉ đến với Đền Hùng, Đền Mẫu Âu Cơ mà chưa dâng hương tại Đền Lăng Sương thì chưa thể coi là đã hoàn tất chuyến hành hương về Đất Tổ. Du khách gần xa hãy một lần đến với Lễ hội Đền Lăng Sương xã Trung Nghĩa để hiểu hơn về lịch sử của dân tộc, cùng tham gia các trò chơi dân gian, các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao như: Liên hoan hát Xoan, bóng chuyền, kéo co, cờ tướng, hội trại văn hóa… Đây cũng là nơi để giáo dục thế hệ trẻ hôm nay hiểu và trân quý những giá trị của lịch sử, sự hi sinh của các bậc thánh nhân để chúng ta có cuộc sống yên bình no ấm, đủ đầy, hạnh phúc và xum vầy như ngày hôm nay.

Phú Thọ có gì? Bạn đang muốn tìm một nơi để giải tỏa tâm hồn nhưng chưa biết đi đầu thì hãy đến với Phú Thọ – chuyến hành trình tại đây hứa hẹn sẽ mang đến cho bạn nhiều trải nghiệm thú vị. Tạm quên những điểm du lịch nổi tiếng trước đó và thử đặt chân đến đây xem sao nhé.

5/5 - (2 bình chọn)

Trả lời

Your email address will not be published.