Vĩnh Long có lễ hội gì?

Vĩnh Long là một trong những địa điểm du lịch mà khách du lịch từ trong và ngoài nước thường xuyên ghé thăm. Nơi đây thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long nên sở hữu nhiều cảnh đẹp mang vẻ đẹp sông nước miền Tây nên cuốn hút du khách tham quan. Ngoài những điểm du lịch nổi tiếng, những món ẩm thực độc đáo thì những lễ hội tiêu biểu ở Vĩnh Long cũng là điểm thu hút đông đảo du khách tìm đến tỉnh thành miền Tây thân thương này. Vĩnh Long có lễ hội gì? Dưới đây là một số lễ hội truyền thống tại Vĩnh Long mời bạn cùng tìm hiểu nhé.

1 Lễ hội Kỳ Yên – Vĩnh Long

Lễ kỳ yên mang ý nghĩa là ngày giỗ hội của làng. Mục đích của lễ kỳ yên là tế thần thành hoàng để cầu quốc thái dân an, xóm làng thịnh vượng, no ấm.

Lễ hội Kỳ Yên - Vĩnh Long
Lễ hội Kỳ Yên – Vĩnh Long

Phần Lễ gồm có các nghi lễ chính là: lễ thỉnh sắc thần; lễ tế Thần Nông, cúng miễu, liệt sĩ; lễ Túc yết; lễ Chánh tế; lễ cúng Tiền hiền, Hậu hiền, Hội viên quá vãng; lễ đưa sắc thần.

Các đình đều thờ tiền hiền, hậu hiền là những người có công quy dân lập làng hoặc bỏ tiền của xây dựng các công trình phúc lợi công cộng đầu tiên, để lại gương soi cho đời sau. Vì thế nên trong chương trình lễ kỳ yên đều có nghi tiết tế các vị tiền bối hữu công kể trên. Cũng mang ý nghĩa “uống nước nhớ nguồn” như vậy, nhiều đình bày ra nghi tiết tế Quốc Tổ Hùng Vương, Bác Hồ hoặc liệt sĩ. Nói tóm lại, ngày kỳ yên mang ý nghĩa là ngày giỗ hội của làng. Người ở địa phương, dù có làm ăn xa, đến ngày ấy đều mong muốn trở về tham dự. Tất cả các nghi tiết dù ngắn dài, phong phú hay đơn giản… đều mang ý nghĩa biểu lộ tấm lòng thành của mình.

Riêng đối với các danh nhân ở địa phương như Hữu phủ Tống Phước Hiệp, Lâm Thao Quận công Châu Văn Tiếp, Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn hay quan Tiền hiền Phan Công An, ngày lễ hội gắn liền với ngày giỗ, ngày kỷ niệm. Nghi thức tế lễ cũng tương tự nghi thức tế lễ trong ngày kỳ yên. Có thể nói, lễ kỳ yên ở đình làng là nghi thức căn bản, có thể áp dụng cho tất cả các đền miếu. Riêng ngày giỗ Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn (ngày mùng 3 và mùng 4 Tết) mang đủ màu sắc Kinh – Hoa – Khmer, là một ngày lễ hội đẹp mắt, hấp dẫn.

Lễ hội Kỳ Yên - Vĩnh Long
Lễ hội Kỳ Yên – Vĩnh Long

Các nghi lễ thường giống nhau, gồm một tiết mục dâng hương, 3 lần dâng rượu, một lần dâng trà. Cuối một nghi lễ đều có một bài văn tế thay cho lời khấn, nội dung gồm những lời tán dương thần thánh và lời cầu nguyện của dân làng. Khi tế lễ phải có giàn nhạc cụ gõ nhịp gồm : mõ, chiêng, trống, chuông. Mõ mang tượng trưng cho uy quyền địa phương nên được dẫn đầu. Các buổi lễ tế Khổng Tử, Quan Công hoặc một số thần linh khác không được dùng mõ. Ngoài giàn nhạc cụ gõ nhịp vừa kể còn có giàn nhạc lễ, đủ ngũ âm. Người phục vụ tế lễ gồm có một cặp lễ sanh xướng ngôn, một cặp lễ sanh lặp lại (do chưa có máy khuếch đại), một cặp lễ sanh bưng đèn và một cặp lễ sanh dâng lễ vật. Ngoài ra, trước các lễ sanh đăng đài có thể có võ sĩ múa dẫn lễ (mô phỏng điệu “Tiên nữ dâng hoa” nhà chùa khi dâng lục cúng). Phía sau các lễ sanh vừa kể cũng có thể có mấy cô đào hóa trang thành các tiên nữ vừa đi vừa cầm quạt hát theo điệu thài. Tất cả các tiết mục vừa kể do một người am tường gọi là Hương lễ chỉ huy.

Trong thực tế lễ kỳ yên thì phần “lễ” chiếm phần quan trọng hơn phần “hội”. Ở đây, các đối tượng cúng lễ là tập hợp thần linh đông đảo không chỉ riêng có thần Thành hoàng bổn cảnh. Do đó, khi cúng đình cũng có nghĩa là cúng miễu. Trước kia, khi cúng miễu phải mời bà bóng đến rồi mời múa hát. Lễ kỳ yên cũng có nghĩa là “lễ cầu an” nên thường mời các vị chân tu đến tụng kinh cầu an hoặc mời thầy pháp để gõ đầu tiễn thần “ôn hoàng dịch lệ” đem sự an lành cho xóm làng. Thế nhưng, khoảng mấy mươi năm trở lại đây, tục mời bà bóng và thầy pháp không còn. Lễ kỳ yên mang tính thuần khiết hơn.

Lễ kỳ yên là dịp để dân làng họp mặt, bàn chuyện gia đình yên ấm, vui chơi. Xưa kia, các đình vùng Vĩnh Long có tục cứ ba năm đáo lệ tổ chức hát bội cúng thần giúp vui bá gia bá tánh. Những tục lệ này nhằm thắt chặt tình cộng đồng. Còn hát xướng trong ngày kỳ yên không phải là loại văn nghệ bình thường, mà mang nội dung nghi lễ. Chương trình văn nghệ phải có nội dung đạo lý, kết thúc có hậu.

Lễ kỳ yên còn là dịp để các nghệ nhân giới thiệu sự khéo léo của mình như chưng hoa kết quả hoặc giới thiệu cái đỉnh đồng, cái lọ cắm hoa. Kỳ yên còn là dịp cho người làm vườn giới thiệu các loại cây trái mới, người làm ruộng giới thiệu các giống nếp ngon qua tài thổi xôi, làm bánh của các chị em phụ nữ.

Thế nhưng từ xưa, ở địa phương này đã có lệ, hễ hưởng lộc nhiều thì đóng góp nhiều nên không có cảnh “một miếng thịt làng bằng một sàng xó bếp”, không có tục “chiếu trên, chiếu dưới” nhậu nhẹt say sưa. Do đó, tiệc tùng yến ẩm trong ngày lễ kỳ yên chỉ mang tính liên hoan, chiêu đãi. Lễ kỳ yên chính là dịp để mọi người tụ họp, kể nhau nghe những câu chuyện hay để thắt chặt thêm tình làng nghĩa xóm.

2 Lễ Cúng Miếu – Vĩnh Long

Lễ cúng miễu mang tính dân dã, cả nam nữ, già trẻ đều có thể đến cúng lạy. Ban tổ chức cúng kiến có thể là một bô lão, một trùm ấp, một nông dân, một phụ nữ. Lễ vật cúng kiến biểu hiện cho tấm lòng của bà con trong xóm.

Lễ Cúng Miếu - Vĩnh Long
Lễ Cúng Miếu – Vĩnh Long

Chương trình lễ cúng miễu là chương trình lễ kỳ yên thu gọn. Tùy theo đối tượng của miếu thờ phụng, có thể chia ra làm ba loại lễ cúng miễu: lễ cúng miễu Ông, lễ cúng miễu Cô Hồn, lễ cúng miễu Bà.

Lễ cúng miễu Ông: miếu Ông là miếu thờ các vị nam thần xuất phát từ văn hoá Hán – Việt, gồm có Quan Công, Thổ Địa, thần Nông. Nghi lễ cúng miễu Ông là nghi lễ Nho giáo, gồm có các lễ: Thỉnh Tro (thỉnh lư hương từ đền thờ chính về miếu, mang ý nghĩa thỉnh thần về dự lễ), cúng Tiền Yết, Chánh Cúng, cúng Tiên Sư, Tiền Vãng (tức là những bậc đàn anh có công với xóm ấp, những người đứng ra lập miếu). Những nơi có điều kiện có thể dùng nghi thức tế với nhạc lễ, lễ sanh, … thay vì dùng nghi thức cúng vái bình thường. Trừ những nơi thờ Quan Công phải có ba ngày vía (vía sanh ngày 13 tháng giêng âm lịch, vía tử ngày 13 tháng năm, vía hiển thánh ngày 23 tháng 6) còn các miếu thờ Thổ Địa hoặc Thần Nông chỉ có hai ngày lễ hội là lễ xuân tế hay lễ thu tế, lễ Hạ Điền và lễ Thượng Điền. Các ngày vía này thường không thống nhất mà do các địa phương quy định.

Lễ cúng miễu Cô Hồn: chương trình cúng miễu Cô Hồn cũng giống như chương trình cúng miễu Ông. Ngoài ra khi cúng miễu Cô Hồn còn phải mời các nhà sư đến tụng kinh cầu siêu và khí thực cho Cô Hồn. Mỗi năm có ba lễ cúng Cô Hồn: rằm và 16 tháng giêng, rằm và 16 tháng mười và đặc biệt nhất là rằm và 16 tháng bảy âm lịch là ngày xá tội vong nhân, không thể nào thiếu được.

Lễ cúng miễu Bà: tại Vĩnh Long có nhiều miếu thờ Thất Thánh Nương Nương, Ngũ Hành Nương Nương, Thiên Hậu Thánh Mẫu, … nhưng đều áp dụng nghi lễ cúng miễu nữ thần Thiên Y Ana. Chương trình cúng miễu Bà gồm các nghi thức: lễ thỉnh Đất và Nước, lễ cúng Tiên Sư, Tiền Vãng, lễ Tiền Yết, lễ Chánh Cúng. Đặc biệt, vì nữ thần Thiên Y Ana thuộc tín ngưỡng Chăm nên trước kia có tục mời bà bóng đến rỗi mời, múa dâng lễ. Các nghi tiết này đều có dàn nhạc lễ diễn đầu. Nhiều nơi khi cúng miễu Bà còn mời sư đến tụng kinh cầu an.

Lễ Cúng Miếu - Vĩnh Long
Lễ Cúng Miếu – Vĩnh Long

Lễ hội làng xóm ở các đình, miếu vừa mang tính chất tín ngưỡng, vừa mang tính chất tri ân, cũng là dịp để bà con xóm làng vui chơi, thắt chặt tinh thần đoàn kết. ở khía cạnh nào đó, hình thức diễn xướng của lễ hội vừa có chức năng nghi lễ, lại vừa có chức năng nghệ thuật, đáp ứng yêu cầu hội hè của bà con trong làng, trong xóm. Bên cạnh đó, do tính chất dân dã của đình miếu ở địa phương đã khiến các lễ hội này thu hút nhiều khách đến hành hương lễ bái.

3 Lễ hội Lăng Ông Trà Ôn – Vĩnh Long

Ông Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn (1763 – 1820) (tên thật: Thạch Duồng, quý danh: Duyên, còn gọi là Tà Duồng), là người Khmer, thuộc làng Nguyệt Lãng, huyện Vĩnh Bình (nay là xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh). Ông theo phò chúa Nguyễn, có công lớn trong việc khai khẩn vùng đất Trà Ôn, Cầu Kè và tạo được mối đoàn kết giữa các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, ngăn chặn được sự xâm lấn của quân Xiêm La. Ông cùng các tướng sĩ tham gia hỗ trợ cùng Thoại Ngọc Hầu đào vét kênh Vĩnh Tế nên chúa Nguyễn cảm kích phong chức Điều bát và được mang Quốc thích là Nguyễn Văn Tồn. Khi ông mất được truy tặng là Tiền quân Thống chế Điều bát.

Lễ hội Lăng Ông Trà Ôn - Vĩnh Long
Lăng Ông Trà Ôn – Vĩnh Long

Khu di tích Lăng Ông Tiền quân Thống chế Điều bát, thuộc ấp Giồng Thanh Bạch, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, được trùng tu tôn tạo vào các năm 1937, 1953, 1960, 1963, 1967, 1992, 1994, 1997 và gần đây nhất là năm 2004. Trong Lăng Ông còn thờ các nhân vật khác như: Phó soái Nguyễn An, Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định và Lê Văn Duyệt.

Từ xưa đến nay, lễ hội Lăng Ông Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn được tổ chức vào dịp đầu xuân trong khu di tích, do cộng đồng người Kinh – Hoa – Khmer vùng Trà Ôn thực hiện. Lễ hội Lăng Ông có nguồn gốc từ lễ giỗ ông Nguyễn Văn Tồn vào ngày mùng 4 tháng Giêng năm Canh Thìn (1820), thu hút rất nhiều người dân trong huyện Trà Ôn và các vùng lân cận tham gia: Mang Thít (Vĩnh Long), Cầu Kè, Càng Long (Trà Vinh),…

Lễ hội có đầy đủ các nghi thức cúng tế truyền thống như: Túc yết, Chánh tế, lễ tế Tiền hiền, Hậu hiền, xây chầu và hát bội, trình diễn nhạc lễ 03 dân tộc Kinh, Hoa, Khmer: người Kinh tổ chức hát bội, người Hoa tổ chức múa lân, nhạc Tùa Lầu Cấu, còn bà con người Khmer trình diễn nhạc ngũ âm và múa hát theo truyền thống tộc người. Trước đây, vào ngày lễ hội, người dân vùng Trà Ôn tổ chức lễ rước sắc phong với trống chiêng, cờ đuôi nheo, mọi người mặc võ phục triều Nguyễn thời xưa với thắt lưng màu đỏ, hoặc khăn đóng áo xanh hành lễ. Hiện nay, tục rước sắc đã không còn được thực hành.

Tuy lễ hội diễn ra chính trong 2 ngày: mùng 3 và mùng 4 tháng Giêng nhưng thực chất người dân vùng Trà Ôn đã vào hội từ ngày 30 tháng Chạp. Mở đầu cho các nghi thức của lễ giỗ ông là tục trồng cây nêu, làm các loại bánh như bánh tét, bánh ít, … và trái cây dâng cúng. Trồng cây nêu trong những ngày đầu năm mới là nét văn hóa đặc trưng của Văn hóa Á Đông, nhưng ở đây nó còn mang ý nghĩa báo hiệu ngày tổ chức lễ hội sắp bắt đầu. Tre được chọn để dựng nêu phải là loại tre “hóp”, vừa nhỏ, đanh, lại tươi rất lâu, các nhánh, lá tre được róc hết chỉ còn thừa lại phần đọt có lá. Ngày 30 tháng Chạp, các vị hương lão cúng trình trời đất và ông Tiền quân Thống chế Điều bát rồi dựng cây nêu trước lăng. Người dân chọn cây tre làm cây nêu phải có đốt tre khi đếm đến đốt ngọn trên cùng thuộc cung sinh mới chặt gốc. Trên phần đọt của nêu treo lá bùa gọi là bùa nêu và một vật tượng trưng như cá chép làm bằng đất hoặc bằng gỗ, khánh, chuông,… khi gió thổi cây nêu phát ra những âm thanh nhẹ và êm. Người dân nơi đây cho rằng: cây nêu dùng để chỉ đường cho ông Tiền quân Thống chế Điều bát về ăn tết và chuẩn bị cho ngày giỗ.

Lễ hội Lăng Ông Trà Ôn - Vĩnh Long
Lễ hội Lăng Ông Trà Ôn – Vĩnh Long

Từ sáng sớm ngày mùng 3 Tết, dàn nhạc ngũ âm của người Khmer đến từ chùa Gò Xoài, xã Tân Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, đã vang lên những âm thanh rộn rã ở lăng. Kế tiếp là lễ tụng kinh cầu an của các vị sư người Khmer. Sau đó là biểu diễn múa lân của người Hoa để cầu an lành, thịnh vượng, tạo bước khởi đầu tốt đẹp cho năm mới. Các điệu múa dân gian như múa rô – băm, múa trống sa – dăm hay hát dù – kê cũng được cộng đồng thực hành. Đến giờ Thân là lễ Túc yết, cúng tế các vị Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai cơ cùng những người có công với đất nước, với các nghi thức dâng hương đăng, trà rượu, nhạc lễ,… Lễ vật dâng cúng là hoa quả, sản vật địa phương, nơi ông Tiền quân xưa kia đã dày công khai khẩn như: con lợn trắng được làm sạch nhưng chưa nấu chín hoặc một cái đầu heo, mâm xôi rặc không có đậu, mâm trái cây, mâm bánh, rượu, trà, trầu cau, đĩa gạo, muối. Lễ hội cũng là lễ giỗ Ông Tiền quân nên trên mâm cúng được bày như bữa cơm dành cho Ông với các món ăn dân dã của người dân làng quê Nam Bộ như thịt kho hột vịt, dưa cải, canh xương heo hầm, cà ri bánh mì,…

Sau nghi lễ là trình diễn nghệ thuật tuồng với các vở mang tính lịch sử như: Lý Thường Kiệt bình Tống, Mộc Quế Anh, Lưu Kim Đính, Hoa Mộc Lan, Thạch Kim Huê, Nhị Phước Tinh lâm phàm,… để cúng thần và giúp vui cho bà con. Nội dung các vở diễn nhắc lại đạo đức tốt đẹp của người xưa, để răn dạy con cháu ngày nay.

Lễ Chánh tế được tổ chức vào ngày mùng 4, vừa là lễ giỗ Ông, vừa cầu những điều tốt lành, mùa màng tốt tươi, quốc thái dân an… cho cộng đồng. Lễ Chánh tế cũng diễn ra trong tiếng nhạc ngũ âm, diễn tích Tùa Lầu Cấu, nhạc lễ,… Sau nghi lễ là nghi thức “ẩm phước” được tiến hành sau tuần trà. Đây là lễ phân hưởng rượu đã dâng cúng Ông để hưởng phước. Các vị chánh tế và bồi tế nâng ly cung kính uống rượu và lạy Ông. Chúc văn được hóa, nhân dân vào lễ bái cầu nguyện những điều tốt lành cho gia đình, bản thân.

Lễ Xây chầu đại bội để cầu cho quốc thái dân an. Sau lễ xây chầu, trống chầu được khiêng đặt dưới sân khấu, dân làng cử ra người cầm chầu, đào, kép của đoàn hát được cộng đồng mời tham gia lễ hội diễn các lễ như: Lễ Khai thiên tịnh địa (Điềm hương – Điềm hoa), Lễ Xang nhật nguyệt, Lễ Tam tài (Tam đa hay Tam tinh) chúc tụng phúc, lộc, thọ, Lễ Tứ thiên vương, Lễ Đứng cái, Lễ Gia quan – Tấn phước (Gia quan phổ tước), Lễ Bát tiên hiến thọ.

Bên cạnh đó, các đội nhạc lễ của người Khmer, người Hoa, người Kinh tiếp tục trình diễn những âm điệu đặc sắc dâng lên cúng ông: nhạc ngũ âm, múa trống Sa – dăm, múa Rô – băm, hát Dù – kê; đội nhạc Tùa Lầu Cấu với các vở Bái tông đường, Cao săn sin, múa lân, múa sư tử, múa rồng…; trình diễn hát bội được các câu lạc bộ tuồng ở địa phương thể hiện qua các trích đoạn tuồng cổ. Ngoài ra còn có hội thi múa lân, các trò chơi dân gian vui nhộn.

Lễ hội Lăng Ông Trà Ôn - Vĩnh Long
Lễ hội Lăng Ông Trà Ôn – Vĩnh Long

Lễ hội Lăng Ông Trà Ôn được cộng đồng thực hành hàng năm, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân. Lễ hội đã có sức sống mạnh mẽ, tầm ảnh hưởng không chỉ trong phạm vi ở vùng Trà Ôn mà còn lan rộng ra cả tỉnh Vĩnh Long, thu hút số lượng lớn người tham gia.

Lễ hội Lăng Ông Trà Ôn thể hiện lòng tri ân sâu sắc của nhân dân các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer đối với vị tướng có công với dân, với nước. Đồng thời thông qua lễ hội khơi dậy tinh thần đoàn kết, tình yêu thương gắn bó của dân tộc Kinh, Hoa, Khmer trong cộng đồng để cùng nhau xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp. Lễ hội Lăng Ông Trà Ôn là sự tổng hòa, thống nhất trong đa dạng về loại hình nghệ thuật dân gian nhưng lại mang những nét độc đáo riêng biệt của từng dân tộc Kinh, Hoa, Khmer sinh sống tại vùng đất Trà Ôn, đồng thời các trình diễn dân gian như: nhạc ngũ âm, múa Sa – dăm, múa dân gian Khmer, múa lân, nhạc Tùa Lầu Cấu, hát bội,… đã tái hiện được những nét sinh hoạt văn hoá cổ xưa của người dân vùng Trà Ôn. Lễ hội Lăng Ông còn là “sợi dây” gắn kết cộng đồng, tình đoàn kết, yêu thương giúp đỡ nhau. Đây chính là giá trị nhân văn sâu sắc giúp con người hướng đến những giá trị chân – thiện – mỹ.

Với giá trị tiêu biểu, Lễ hội Lăng Ông Trà Ôn được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 261/QĐ-BVHTTDL ngày 22/01/2020.

4 Lễ Chol Chnam Thmay – Vĩnh Long

Lễ Chol Chnam Thmay là lễ mừng năm mới của người dân Khơme, lễ này được tổ chức vào giữa tháng ba âm lịch hàng năm. Đây cũng chính là thời điểm giao mùa giữa mùa mưa và mùa nắng, thời điểm bắt đầu cho vụ sản xuất nông nghiệp theo nông lịch cổ truyền của người dân Khơme nên lễ Chol Chnam Thmay còn đồng nghĩa với việc mừng cho vụ mùa mới trong năm.

Lễ Chol Chnam Thmay - Vĩnh Long
Lễ Chol Chnam Thmay – Vĩnh Long

Lễ Chol Chnam Thmay là một trong những lễ được coi là quan trọng nhất trong năm, lễ được tổ chức tại chùa và tổ chức trong từng gia đình. Lễ kéo dài trong vòng 3 ngày: ngày thứ nhất được gọi là ngày “sangkran” tức là ngày “rước quyển Đại lịch” (Maha sangkran) có ý nghĩa đón mừng năm mới mà nghi thức lễ gắn liền với thần thoại Thomabal và Kabil Maha Prum; ngày thứ hai gọi là ngày “wonbot”, vào ngày này mọi người sẽ đi chùa lễ Phật, mang thức ănđể dâng cho các sư sãi; ngày thứ ba thì được gọi là ngày “Lơn sak” với các nghi thức chính là tắm cho tượng Phật và cầu siêu.

Vào ngày thứ ba của lễ, trước tượng đức Phật, chư tăng phải đọc kinh sám hối và sau đó chư tăng sẽ dùng một cành hoa nhúng vào nước có hương thơm để tắm cho tượng Phật bằng cách vẩy nước thơm vào tượng. Sau đó, mọi người sẽ theo tuần tự đến trước tượng để làm lễ đức Phật. Đến đây thì Phật tử cũng dùng nước thơm để vẩy lên người các vị sư để tỏ lòng tôn kính và cũng từ đó mọi người sẽ cùng té nước vào nhau để chúc mừng và cầu xin sự may mắn bởi đối với con người Khơme nước là biểu tượng của sự may mắn và sung túc. Đây chính là nghi thức kết thúc hội lễ Chol Chnam Thmay nhưng đây cũng là sự tiếp nối cuộc vui trong những ngày đầu năm mới.

5 Lễ Donta của người Khơme – Vĩnh Long

Lễ Đonta của người dân Khơme được tổ chức vào cuối tháng tám âm lịch, đây cuãng là một trong những hội lễ quan trọng được người dân Khơme xem là cái Tết thứ hai trong năm. Lễ hội Đonta bắt đầu từ ngày 16 tháng 8 âm lịch và kéo dài đến ngày cuối của tháng 8 âm lịch hàng năm. Trong suốt khoảng thời gian này, những gia đình người Khơme thường mang cơm nước, bánh trái, hoa quả, … đến chùa để sư sãi làm lễ cúng cho vong hồn của những người đã khuất và làm lễ cầu siêu cho những vong hồn đó.

Lễ Donta của người Khơme - Vĩnh Long
Lễ Donta của người Khơme – Vĩnh Long

Do tính chất cùng góp vật thực để cúng vong hồn cho những người đã khuất, cho những cô hồn, để sư sãi dùng cũng như cho bữa cơm cộng đồng, đặc biệt là có “baibanh” (xôi tròn hay nắm cơm) mà vào ngày lễ chính của lễ Đonta (ngày 30 tháng 8 âm lịch) được người dân Khơme gọi là ngày “phchumbanh”, tức là lễ “góp bánh”. Sau khi kết thúc các nghi thức lễ tại chùa vào buổi sáng ngày lễ phchum banh hay ngày lễ chính thức, mọi người sẽ trở về nhà để làm lễ cúng ông bà được gọi là lễ “senchaktum”. Người ta làm cỗ, thắp nhang đèn để dâng cúng tổ tiên, ông bà, cầu xin cho vong hồn của họ được siêu thoát và van vái, cầu xin ông bà phù hộ.

Nhìn chung, qua nghi thức, qua thời gian và qua cách thức tổ chức lễ có thể thấy lễ hội Đonta là sự kết hợp giữa hình thức lễ nghi nông nghiệp với lễ cúng ông bà, tổ tiên và lễ xá tội vong nhân của đạo Phật. Sự hợp nhất các ý nghĩa của lễ hội Đonta đã làm cho nó có được tầm quan trọng trong hệ thống lễ hội cộng đồng của người dân Khơme tại Vĩnh Long.

Đối với đời sống tinh thần của con người thì các lễ hội được xem như một sợi dây cộng cảm, nơi người ta có thể cùng nhau sẻ chia lòng biết ơn với ông bà, với tổ tiển, niềm tin tôn giáo, gửi gắm một ước vọng về tương lai, … Cũng với ý nghĩa như vậy, các lễ hội ở tỉnh Vĩnh Long đã thể hiện rõ nét đặc trưng của vùng đất nơi ba dân tộc Khơme, Hoa, Việt đang sinh sống trong tình đoàn kết và gắn bó.

Hy vọng với những lễ hội truyền thống đặc sắc, hấp dẫn ở Vĩnh Long mà chúng tôi chia sẻ trên đây sẽ giúp bạn giải đáp được thắc mắc ở Vĩnh Long có lễ hội gì rồi nhé. Hãy một lần ghé thăm nơi đây và cảm nhận không khí của những lễ hội tuyệt vời này. Chúc bạn có chuyến du lịch Vĩnh Long vui vẻ và trọn vẹn niềm vui.

5/5 - (1 bình chọn)

Trả lời

Your email address will not be published.