Vĩnh Phúc có lễ hội gì?

Du lịch Vĩnh Phúc không chỉ hấp dẫn du khách bởi những danh lam thắng cảnh hùng vĩ mà nơi đây đang dần phát triển dịch vụ du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng với hành trình tham quan và tìm hiểu nền văn hóa đặc sắc của các làng quê ở Vĩnh Phúc. Phong tục tập quán được phản ảnh qua các lễ hội truyền thống trong năm cũng là điểm nổi bật của mảnh đất này. Vĩnh Phúc có lễ hội gì? Dưới đây là một số lễ hội truyền thống tại Vĩnh Phúc mời bạn cùng tìm hiểu nhé.

1 Hội Rưng – Vĩnh Phúc

Hội Rưng tổ chức ngày mùng 6 Tết âm lịch một trong những hội làng truyền thống đặc sắc nhất của tỉnh Vĩnh Phúc. Người dân Tứ Trưng tổ chức hội Rưng với mong ước cả năm đó có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, mùa màng tốt tươi.

Hội Rưng được tổ chức cùng ngày với phiên chợ Rưng đầu tiên của năm mới. Từ xa xưa, người dân Tứ Trưng có nhiều câu ca nhắc nhở về ngày hội đầu năm như:

Tháng Giêng mồng sáu tiệc vui
Gần xa nô nức đến chơi chợ này

Hay

Bỏ con, bỏ cháu không ai bỏ mùng sáu hội Rưng

Hội Rưng - Vĩnh Phúc
Hội Rưng – Vĩnh Phúc

Hội Rưng là lễ hội chung của các làng “Trưng” thuộc phủ Vĩnh Tường xưa (nay thuộc thị trấn Tứ Trưng, huyện Vĩnh Tường). Sở dĩ có tên Tứ Trưng là do được hình thành từ 4 làng Thế Trưng, Văn Trưng, Vĩnh Trưng và Bảo Trưng. Hội Rưng được tổ chức vào dịp đầu xuân năm mới, thời điểm nông nhàn, người nông dân được nghỉ ngơi sau một năm lam lũ, vất vả.

Chợ Rưng nằm ở trung tâm xã thị trấn nhìn ra đầm Rưng. Trước đây ở giữa chợ Rưng có một Miếu Ông thờ ông Nguyễn Văn Nhượng – danh tướng thời Lý Cao Tông. Sinh thời ông lập công đánh tan giặc Ai Lao và được vua ban cho nhiều ấn tín. Khi hóa ông được nhân dân lập miếu thờ ngay tại chợ Rưng. Ngày giỗ ông Nguyễn Văn Nhượng vào 7 tháng Giêng nên nhiều người nói hội Rưng chuẩn bị cho ngày giỗ ông.

Hội Rưng chỉ diễn ra trong 1 ngày nên cả dân làng già trẻ, gái trai dù bận trăm công nghìn việc cũng phải gác lại tập trung ra chợ Rưng cùng nhau vui chơi nhiều trò chơi dân gian như: đánh đu, kéo co, đấu vật, đánh cờ người, bắt trạch trong chum… Người dân Tứ Trưng bảo nhau rằng trò bắt trạch trong chum có nguồn gốc từ nơi đây.

Dân làng Tứ Trưng tổ chức hội Rưng hàng năm để chào đón một năm mới làm ăn phát đạt. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống hội Rưng là thách thức với người dân Tứ Trưng trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.

2 Lễ hội tứ dân chi nghiệp  – Vĩnh Phúc

Lễ hội tứ dân chi nghiệp được tổ chức vào 20 tháng giêng hàng năm, tại xã Đại Đồng (Vĩnh Tường).

Lễ hội tứ dân chi nghiệp  - Vĩnh Phúc
Lễ hội tứ dân chi nghiệp  – Vĩnh Phúc

Lễ hội ở Đại Đồng diễn ra với phần rước kiệu thành hoàng làng – Đinh Thiên Tích Tướng thời Hùng Vương thứ 6 chống giặc Ân.

Hàng năm ngày 4-5 tháng giêng mỗi nhà có trâu và gia đình “sạch bụi phong quang” đều phải “sắm” một con trâu, bò đem ra sân đình làm lễ (rơm rạ được chuyển bị từ mùa vụ trước). Trên đoạn đường từ đến tớ đình (chỉ hơn 1km), nhưng phải tới cả buổi vì kiệu khi xuôi, khi ngược, quay tròn giữa đám đông người xem hội.

Trâu bò này được buộc vào cày, bừa đã tháo lưỡi có người kéo và cày. Trên sân đình có vài chục trâu bò như thế và một số cô gái cắp thúng trấu, một số trẻ em trong vai mục đồng, bê, nghé người câu ếch, úp cá… mọi động tác trình diễn đều theo nhịp chiêng, trống của người chỉ huy (đạo diễn).

Đặc biệt trò diễn này nam đóng giả nữ, nữ đóng giả nam để tăng tính hài hước, vui nhộn, ngộ nghĩnh. Trò diễn không giới hạn thời gian, nên mọi người có thể tham gia trong suốt hội làng… Còn có trò “rước kén tằm và trò thi đệt cửi trên mặt ao”. Tục rước “Ông bò” và “cướp con” đậm màu sắc tín ngưỡng phồn thực.

3 Lễ hội đền Bắc Cung  – Vĩnh Phúc

Lễ hội đền Bắc Cung hay còn gọi là lễ hội đền Thính được tổ chức từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 9 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Lễ hội nhằm tưởng nhớ Đức thánh Tản Viên, người anh hùng có công khai điền trị thuỷ từ thuở Vua Hùng dựng nước.

Lễ hội đền Bắc Cung  - Vĩnh Phúc
Lễ hội đền Bắc Cung  – Vĩnh Phúc

Đền Bắc Cung nằm ở xã Tam Hồng huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc. Đền thờ đức thánh Tản Viên (một trong tứ bất tử của tâm thức người Việt Nam). Tương truyền, Thánh Tản Viên tên thật là Nguyễn Tuấn, con một vị trưởng lão họ Nguyễn ở Sơn Tây. Năm 6 tuổi thì cha qua đời, 2 mẹ con đến ở nhờ nhà bà Ma Thị Cao (con thần núi Tản Viên). Một hôm, Nguyễn Tuấn lên núi đốn củi gặp thần Thái Bạch, thấy cậu bé khôi ngô, tuấn tú, thần đã trao cho cây gậy thần và dạy câu thần chú để cứu đời. Sau này chàng có công cứu con Long Vương thoát chết và được Long Vương đền ơn biếu cuốn sách có thể hiểu mọi lẽ huyền vi của trời đất. Biết chàng là người có tài, có hiếu, trước khi qua đời, mẹ nuôi đã trao cho chàng cai quản muôn vật ở núi Tản Viên. Khi Vua Hùng kén rể cho công chúa Mị Nương, Nguyễn Tuấn nhờ có sách quý và gậy thần đã kiếm được sính lễ mang đến trước Thủy Tinh và cưới được Mị Nương. Sau chiến thắng Thủy Tinh và quân Thục, biết chàng là người có tài, Hùng Vương đã trao quyền trị nước cho Nguyễn Tuấn, nhưng chàng từ chối và xin vua cha cho đi du ngoạn khắp nơi giúp dân. Khi đi qua vùng Tam Hồng, thấy cảnh sơn thủy hữu tình, Ngài đã dừng chân, dạy dân trồng lúa, đánh cá, sản xuất nông nghiệp. Ghi nhớ công đức của Ngài, nhân dân Tam Hồng dựng một ngôi đền thờ gọi là đến Thính, xây ở phía Bắc núi Ba Vì và châu thổ sông Hồng nên có tên là đền Bắc Cung (một trong “Tứ cung” thờ Đức thánh Tản Viên). Thần núi Tản Viên hết sức linh ứng, khi nào nhân dân cầu mưa, cầu nắng cho mùa màng đều được ứng nghiệm. Mỗi khi lạnh trời, thánh Tản Viên thường hiện hình ở các khe suối, lại đem theo cây gậy thần cứu chữa bệnh cho người nghèo khổ, đi đến đâu, Ngài cho hiện ra đền đài để nghỉ ngơi. Để ghi nhớ công lao của Tản Viên Sơn Thánh, tại vị trí này nhân dân Tam Hồng dựng một ngôi đền để thờ phụng gọi là đền Bắc Cung.

Lễ hội đền Bắc Cung  - Vĩnh Phúc
Lễ hội đền Bắc Cung  – Vĩnh Phúc

Lễ hội gồm hai phần: Phần Lễ và Phần Hội

Trong phần lễ, nhân dân Tam Hồng tổ chức rước kiệu từ các đình Phù Lưu, Man Để, Tảo Phú, Lâm Xuyên, Nho Lâm lên đền. Mỗi làng đều có Ban tế gồm: Chủ tế, Đông xướng, Tây xướng, Bồi tế và người hầu chủ tế cùng bộ phận chấp kích. Chủ tế phải là người trên 60 tuổi, phải có con, cháu đầy đủ cả trai, gái. Lễ tế phải có một thủ lợn, mâm xôi và hoa quả do nhân dân các làng làm ra. Chủ tế thay mặt người dân trong làng dâng hương, nước, rượu, lễ vật và đọc văn tế xin Đức thánh Tản Viên cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm.

Sau phần lễ là phần hội. Hội đền Bắc Cung được tổ chức với rất nhiều hoạt động phong phú như các trò chơi dân gian: chọi gà, đấu vật, đánh cờ người, đu cây, kéo co, bóng chuyền. Các cuộc thi múa hát dân ca, dân vũ của các làng, trống hội. Nhân dân trong vùng và khách thập phương từ mọi miền Tổ quốc về hội đền Bắc Cung rất đông, mỗi năm có trên một triệu lượt khách thập phương đến vãn cảnh, bình an, hạnh phúc. Nhân dân Tam Hồng mỗi khi xuất hành đi xa, hay xây dựng nhà cửa, con cháu học hành đều thành tâm ra lễ đền xin được Thánh phù hộ.

Lễ hội đền Bắc Cung không chỉ là hình thức sinh hoạt văn hóa, tinh thần nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của quốc gia, mà còn là điểm thăm quan, sinh hoạt văn hóa cộng đồng của nhân dân trong và ngoài tỉnh.

4 Hội làng Bồ Sao  – Vĩnh Phúc

Hội làng Bồ Sao được tổ chức tại di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia đền Đuông. Đền Đuông thờ Đông Hải Long Vương, con thứ 25 trong số 100 người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ.

Hội làng Bồ Sao  - Vĩnh Phúc
Hội làng Bồ Sao  – Vĩnh Phúc

Làng Bồ Sao nằm ở ngã ba sông Bạch Hạc, nơi gặp gỡ của 3 con sông lớn: Sông Thao, sông Lô và sông Đà. Ngày đó, Bồ Sao còn chưa có đê bảo vệ, khi xảy ra nạn Đại hồng thủy, Vua Hùng phái Đinh Giang Quan và Đông Hải Quan đi trị thủy giúp dân. Sau khi trị thủy xong, Đông Hải Quan đóng bản doanh tại làng Bồ Sao chăm lo đời sống cho nhân dân, giúp dân làm ăn sinh sống, bảo vệ xóm làng. Đông Hải Quan cai quản Bồ Sao được 3 năm, nhân dân trong vùng yên vui, no ấm. Sau đó, vua Hùng lại phái Đông Hải Quan về Khoái Châu (Hưng Yên) để trị thủy. Một lần nữa Đông Hải Quan lập công, đẩy lùi thiên tai, lũ lụt. Ông trở về Bồ Sao được vài năm thì hóa. Nhân dân trong vùng thương tiếc lập đền thờ tưởng nhớ công ơn. Các triều đại đều sắc phong ông là “Đông Hải Long Vương tế chi thần”.

Hàng năm, dân làng Bồ Sao tổ chức 7 ngày lễ tiệc để tưởng nhớ công ơn trị thủy của Đông Hải Long Vương gồm:

  • Ngày 4 tháng Giêng mở hội du xuân của các vị thần linh
  • Ngày 7 tháng Giêng kỷ niệm ngày sinh của Hoàng Hậu
  • Ngày 12 tháng 3 là ngày hóa của Đông Hải Long Vương
  • Ngày 15 tháng 5 là ngày sinh công chúa Hoàng Bà
  • Ngày 24 tháng 5 là ngày sinh Đông Long Vương
  • Ngày 12 tháng 9 là ngày chính tiệc của ba vị tại đền Đuông
  • Ngày 24 tháng 11 là kỷ niệm trièu Lê sắc phong

Trong những ngày lễ tiệc thì kỷ niệm ngày sinh công chúa Hoàng Bà là ngày lễ lớn nhất với hội cướp bông, cướp gươm thu hút đông đảo người dân và du khách. Tiệc bắt đầu từ ngày 12 tháng 5 là ngày mở của đền Đuông. Ngày 15 tháng 5, dân làng Bồ Sao tổ chức lễ rước kiệu long trọng, trống chiêng rộn ràng khắp vùng. Ngày 15 tháng 5 là ngyà chính tiệc của Công chúa. Chiều ngày 15 tháng 5, tổ chức cướp gươm, cướp bông. Gươm và bông biểu tượng cho âm dương hợp đức. Làng Bồ Sao chọn người trong sạch, gia đình không có tang giao cho vót một cây bông và một thanh gươm. Chiều ngày 15 tháng 5, bông và gươm được đem ra tế thần rồi rước ra bãi. Sau khi chủ tế đọc xong văn tế thì một nam, một nữ được chọn vào múa, nam múa gươm, nữ múa bông. Múa xong chiêng trống nổi lên, gươm và bông được tung ra bãi. Ai muốn sinh con trai thì cướp gươm, ai muốn sinh con gái thì cướp bông. Đến ngày 24 tháng 5, người cướp được gươm và bông phải đem lễ vật ra đền tạ Thánh.

Sáng ngày 16 tháng 5, dân làng Bồ Sao cử hành lễ cấy mạ. Mạ được đặt lên kiệu bát cống, rước từ nhà ông đai cai ra đền Đuông theo nghi thức rước Thần, có đầy đủ tàn, long, cờ quat… Đám rước tới sân đền, ông mệnh bái nâng mâm mạ lên bàn thờ làm lễ. Sau đó, mạ được ông đem cấy ở thửa ruộng đã được cày bừa tước đền. Cấy xong, một người vác cây nêu xuống cắm ở giữa khóm lúa mới cấy. Lễ xuống đồng kết thúc.

Lễ hội Bồ Sao là lễ hội độc đáo thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Lễ hội phản ánh ước vọng ngàn đời về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của người dân Bồ Sao.

5 Lễ hội bơi trải Tứ Yên  – Vĩnh Phúc

Lễ hội bơi trải Tứ Yên được tổ chức tháng 5 âm lịch hàng năm, tại xã Tứ Yên, huyện Sông Lô. Tứ Yên có 4 thôn, mỗi thôn có một chải, mỗi chải có 36 tay chèo, bơi từ bến Yên Lương tới bến Yên Lập lại bơi trở về, dọc đường bơi trên sông đều cắm cờ.

Lễ hội bơi trải Tứ Yên  - Vĩnh Phúc
Lễ hội bơi trải Tứ Yên  – Vĩnh Phúc

Năm 544, trước sự tấn công của quân Lương, vua Lý Nam Đế đã từ Long Biên (Hà Nội ngày nay) rút lực lượng về xây dựng căn cứ ở miền rừng núi Lập Thạch. Sau đó, Ngài đem quân ra mai phục ở vùng hồ Điển Triệt, tức là hồ Miêng của xã Tứ Yên để giao chiến với quân giặc. Tại đây đã diễn ra trận thủy chiến vang dội trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Quân ta do lực lượng còn non yếu nên đã thất bại. Vua Lý Nam Đế phải rút quân về động Khuất Lão (Tam Nông, Phú Thọ) rồi trao binh quyền cho tướng Triệu Quang Phục tiếp tục cuộc kháng chiến chống quân Lương, rồi Ngài mất ở đó.

Tuy bị thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa Lý Bí ở thế kỷ thứ VI đã để lại những dấu tích hào hùng trên mảnh đất Tứ Yên, khiến mỗi người dân các thôn Yên Lập, Yên Mỹ, Yên Phú, Yên Lương dù đang lao động, học tập và sinh sống ở đâu cũng luôn cảm thấy tự hào về quê hương, xứ sở của mình. Những cái tên như Rừng Cấm, đồi Ông Ngự, Thành Lĩnh là nơi vua ở; những Phù Giai, Phù Lánh, Phù Yến, Phù Chè, Phù Gầm… là nơi quân ta mai phục; những cái tên nghe dân giã và hoang sơ như Bến Bêu, Đồng Bịch, Cơm Son, hóc Áo trôi, Đồng Quét… vốn có từ rất xa xưa và liên quan đến sự có mặt của vị Hoàng đế đầu tiên của dân tộc, cùng hàng vạn nghĩa quân do Lý Bí chỉ huy, đã chiến đấu dũng cảm và hy sinh oanh liệt trên vùng đất địa linh nhân kiệt này cách nay một nghìn 500 năm. Tất cả những cái đó đã đi vào máu thịt của mỗi người dân Tứ Yên từ cụ già đến em nhỏ, không ai là không biết đến.
Uống nước nhớ nguồn vốn là truyền thống nghìn đời của dân tộc. Người dân Tứ Yên cách đây 4, 5 trăm năm đã dựng đình miếu để thờ cúng, tưởng nhớ và tôn vinh người anh hùng Lý Bí và thờ vọng Thánh Tản Viên, người có công dựng nước thời đại Hùng Vương. Khi có đình, có miếu thì hàng năm làng tổ chức lễ hội.

Từ đó người dân nơi đây đã truyền tụng nhau câu ca: “Rau gác Hạc bơi, Hạc gác Me bơi, Me gác Đức Bác bơi, Đức Bác gác Dạng bơi”. Rau là thôn Cựu ấp, xã Liên Châu (Yên Lạc); Hạc là phường Bạch Hạc (Việt Trì); Me là xã Yên Lập (Vĩnh Tường); Đức Bác là xã Đức Bác (Lập Thạch); Dạng là xã Tứ Yên (Lập Thạch). Đây là trình tự thời gian thi bơi trải của các địa phương dọc hai dòng sông Hồng và sông Lô.

Bơi trải của các làng ở Tứ Yên được đóng bằng gỗ chò, sơn đỏ. Đầu trải hình đầu chim phượng, thân trải thót dần uốn hình đuôi tôm cong ngược. Trải dài 20,5m, lòng trải chia thành nhiều khoang, chỗ rộng nhất là 1,5m. Mỗi trải có 36 tay giầm, chia thành 18 cặp ngồi hàng ngang. Người bơi trải là những trai tráng khoẻ mạnh được tuyển chọn, ngồi quỳ một chân xuống mạn trải theo tư thế thống nhất, tay cầm dầm đúng chiều. Chuôi dầm sơn đỏ mái dầm sơn trắng, khi bơi phải theo đúng nhịp hò của người hò mõ, tay bơi miệng phụ hoạ theo tiếng hò.

Ngày lễ hội, ngoài việc tế lễ ở đình miếu, còn có hình thức rước kiệu và bơi trải giữa hai làng Yên Lương và Yên Lập vào các ngày 24, 25 tháng Năm.Trước giờ xuất phát các làng sắm lễ vật cúng quan Hà Bá, sau đó bốn chiếc trải dàn hàng ngang dưới sông trước cửa đình chờ hiệu lệnh. Khi nào có hiệu lệnh thì các tay bơi mới được vung giầm, hò reo để cố cho trải mình lao lên trước.

Sau những lần thi bơi trải, người bơi cũng như người xem đều mệt lả, tắt tiếng vì hò reo. Làng nào chiến thắng thì được thưởng, mặc dù thưởng không nhiều nhưng niềm vui và vinh dự thì náo nức trong cả năm, mọi người tin rằng năm đó làng mình sẽ an khang thịnh vượng.

Đây là một cuộc thi tài sức dẻo dai bền bỉ, tinh thần đoàn kết của những đội thuỷ binh, rồi trở thành các cuộc đua tài trí của các làng trong hội thi bơi trải. Đó chính là hình thức khai hạ, mừng nước vốn có từ lâu đời ở vùng cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Nó đã trở thành một nét đẹp văn hoá truyền thống của những người dân vùng quê quanh năm gắn bó với sông nước.

6 Lễ hội đền thờ Đức Ông  – Vĩnh Phúc

Lễ hội đền thờ Đức Ông (Lễ hội chợ Dưng), được tổ chức vào ngày mùng 6 tháng giêng hàng năm, tại đền thờ Đức Ông nằm bên cạnh đầm Dưng, xã Tứ Trưng. Lễ hội được tổ chức với mong ước cả năm đó cuộc sống của người dân được ấm no, mùa màng tốt tươi.

Lễ hội đền thờ Đức Ông  - Vĩnh Phúc
Lễ hội đền thờ Đức Ông  – Vĩnh Phúc

Đền thờ danh tướng dưới thời Lý Cao Tông 1176 Nguyễn Văn Nhượng, ông đã có công đánh giặc Ai Lao, giữ gìn biên ải bình định non sông được vua Lý Cao Tông ban cho nhiều ấn tín, lúc ông mất được vua cho xây lăng và lập đền thờ phong Đông Kinh Thông Phán Đại Vương Thượng Đẳng phúc thần hưởng theo nghi lễ quốc thể.

Đền nằm bên bờ sông Kỳ Giang bây giờ gọi là Đầm Rưng. Các triều đại đều có sắc phong tặng ông là bậc Đại Vương bậc Thượng Đẳng Tối Linh Từ. Kiến trúc của đền được làm rất đẹp được khắc chạm chổ rất nhiều hoa văn tinh tế, về các đề tài như Rồng, Phượng, Kim nghi long mũ quạt giấy… vô cùng phong phú, nó phản ánh lên ước vọng của một cuộc sống đầy đủ, thanh bình của nhân dân lúc bấy giờ, đồng thời cũng phản ánh lên các tập tục tín ngưỡng của nhân dân.

Xong phần lễ là đến phần hội. Vì lễ hội chỉ diễn ra trong một ngày nên ngày mùng 6 cả dân làng già trẻ, gái trai… gác hết công việc gia đình để tập trung ở chợ Rưng cùng nhau vui chơi biểu diễn các trò truyền thống như đánh đu, kéo co, đấu vật, đánh cờ người, bơi thuyền ván, nấu cơm thi, bắt trạch trong chum. Họ bảo nhau rằng trò bắt trạch trong chum có nguồn gốc từ chính nơi đây. Người ta thả mỗi con trạch vào một chiếc chum, mỗi đội tham gia bắt trạch chỉ có hai người một trai một gái biểu hiện cho tín ngưỡng phồn thực. Chàng trai luồn tay phải qua eo cô gái và cô gái luồn tay trái qua eo chàng trai. Họ cùng nhau cúi xuống cho tay còn lại vào trong chum bắt trạch. Đội nào bắt được nhanh hơn thì đội đó thắng.

Đến ngày mùng 7, dân làng tổ chức lễ giỗ ông Nguyễn Văn Nhượng. Lễ giỗ ông Nhượng được người già và những người có trọng trách trong xã đứng ra tổ chức ở Miếu Ông, sau đó dân làng đến làm lễ cúng ông Nhượng để tỏ lòng biết ơn và tưởng nhớ đến người con yêu nước của xã. Và lễ giỗ ông Nguyễn Văn Nhượng được duy trì cho đến bây giờ.

7 Hội hát trống quân Đức Bác  – Vĩnh Phúc

Tục hát trống quân đã được người dân xã Đức Bác, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc lưu truyền bao đời nay. Hát trống quân là loại hình sinh hoạt âm nhạc dân gian đặc sắc của người dân Đức Bác. Theo phong tục, hội trống quân Đức Bác diễn ra trong 3 ngày đầu tháng giêng nhằm mục đích cầu may mắn, bình an và hạnh phúc cho dân làng.

Hội hát trống quân Đức Bác  - Vĩnh Phúc
Hội hát trống quân Đức Bác  – Vĩnh Phúc

Đức Bác là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa nằm bên bờ sông Lô, cái nôi của làn điệu trống quân đầy mê hoặc. Hát trống quân là hình thức sinh hoạt văn hóa có từ lâu đời ở vùng đất này gắn với huyền tích về một trận lũ lớn ở sông Lô thưở xưa đã chia cắt một phần đất thuộc xã Đức Bác sang xã Phù Ninh (Phú Thọ). Khúc sông Lô ấy còn gắn với sự tích con gái cả của vua Hùng theo thuyền xuôi dòng bị sóng lớn nhấm chìm. Còn một truyền thuyết nữa kể về một bé gái được mẹ xinh ra trong giấc mộng, tự xưng là Nương công chúa theo Hai Bà Trưng đánh giặc. Chiến thắng trở về, cô hóa trên vùng đất này. Thấy linh thiêng, người dân Đức Bác sang Phù Ninh xin tên nàng về lập đền thờ. Từ đó, hai xã có quan hệ nước nghĩa, hàng năm người dân Đức Bác sang đón người Phù Ninh qua sông làm lễ tế thờ. Hội hát trống quân Đức Bác (hay còn gọi là Hội khai xuân Cầu Đinh) ra đời từ đó, được tổ chức trong 3 ngày đầu tháng Giêng hàng năm.

Theo thông lệ, đến giữa Ngọ ngày mồng 1 Tết, các chàng trai Đức Bác trong trang phục quần trắng, áo trắng, đầu buộc khăn đỏ, đai lưng đỏ đeo trống kéo nhau ra bến quán đón đào sang hội. Điệu hát được đệm bằng trống nhỏ mặt da, tang gỗ có dây đeo bằng lụa hồng. Cuộc hát đôi diễn ra liên tục từ bến quán đến làng Xốm, cho đến khi về đến cửa đình của làng thì mới mãn cuộc. Điều hấp dẫn, lôi cuốn trong hát trống quân Đức Bác là sự kết hợp chặt chẽ giữa làn điệu và tiết tấu. Những chàng trai Đức Bác và những cô đào Phù Nình thể hiện những khúc hát trao tình, những câu hát đối đáp khéo léo. Sau mỗi câu hát đều được đệm bằng câu hát “kìa hởi a trống quân” giống như lời khẳng định nguồn cội, phân chia tuần tự không đứt quãng giữa đôi bên.

Hội hát trống quân Đức Bác là một sân chơi bổ ích và thú vị vào những ngày đầu năm mới cho người dân nơi đây sau những ngày làm việc vất vả trong năm cũ và chào đón năm mới an khang thịnh vượng.

8 Hội vật ở làng Hà  – Vĩnh Phúc

Trong các môn võ cổ truyền, môn vật tuy đơn giản nhưng lại được đông đảo người xem yêu thích. Cư dân vùng núi Tam Đảo vốn là dân thượng võ, từ xa xưa đã có những lò vật nổi tiếng với những đô vật lừng danh. Trong đó có đô vật Trần Nguyên Hãn đã dẫn đầu đoàn quân đô vật trong vùng đi giúp vua Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi, giành lại nền độc lập cho dân tộc. Ở chân núi Tam Đảo có nhiều hội vật nhưng hội vật ở làng Hà xã Hồ Sơn huyện Tam Đảo là vui nhất. Vì tất cả các danh thủ vô địch ở các hội khác đều hẹn nhau về để tranh tài cao thấp lần nữa. Ai đoạt được vô địch ở làng Hà mới đáng mặt anh hùng.

Hội vật ở làng Hà  - Vĩnh Phúc
Hội vật ở làng Hà  – Vĩnh Phúc

Hội vật làng Hà được tổ chức hàng năm vào ngày mồng bảy tết. Từ sáng sớm sau khi các bô lão làm lễ đình xong, tiếng trống trận nổi lên gọi đám đông về tụ tập. Trên bãi cỏ trước sân đình bên cây đa cổ thụ, từng cặp đô vật ra múa chào dân làng ngay giữa đám đông mang nghi thức trình làng. Trước khi vào cuộc, đô vật còn “xe đài” hay “múa hạc”. Đây là hình thức khởi động cơ thể tạo không khí vui vẻ và mang phong cách biểu diễn nghệ thuật. “Xe đài” còn tạo không khí áp đảo đối phương hoặc phô diễn sở trường sở đoản của mình với những miếng võ độc đáo. Rồi chuyển sang múa Hạc “uyển chuyển”. Múa càng khéo càng lôi cuốn người tới xem. Theo hiệu trống của vị trưởng lão cầm trịch, các đô vật trẻ múa vờn nhau rồi vào cuộ vật “dọn bãi”. Tuy chỉ là vật dọn bãi nhưng cũng khá gay cấn và hấp dẫn. Hai đô vật đùn đẩy nhau đến đâu, đám đông giãn ra đến đó, lúc co vào lúc giãn ra trong tiếng hò reo ràn rạt và nhịp trống cái thúc vang trời dậy đất như kêu gọi khách thập phương tụ về mỗi lúc một đông, chật bãi chật đường, leo lên kín cả gốc đa cổ thụ. Khi các keo vật kết thúc thì vòng tròn sân bãi cũng đã hình thành xong và hội vật bắt đầu. Các đô vật nổi tiếng nhường nhau vào đình nhận khố đỏ, khăn điều để lên xới giữ giải và nhận thách đấu trước bàn dân thiên hạ.

Hội vật làng Hà theo lề lối tự do với cách thách đấu giữ giải. Cho nên bất cứ ai dù lớn bé già trẻ đều có thể vào tranh giải. Tùy theo các tình huống, diễn biến mà cụ trưởng lão đánh trống cầm trịch sẽ gióng trống “Tùng” hay “Cắc” để phân định và điều khiển cuộc chiến. Trống là mệnh lệnh, một hồi ba tiếng trống là chuẩn bị vào xới vật. Đánh trông nhịp ba là múa “xe đài” rồi “múa hạc”. Trống đánh ngũ liên là vào kịch chiến, nghe các tiếng “cắc, cắc” đều là tạm ngừng chiến. Một hồi trống dõng dạc là trận đấu kết thúc có kẻ thua người thắng rõ ràng. Ở đây, ai làm cho đối phương ngã lấm lưng, trắng bụng hay bị nhấc bổng lên khỏi mặt đất hoặc đùn đẩy đối phương ra khỏi vòng xới vật…là người đó chiến thắng. Vì vật, đã từng có đô vật trông rất nhỏ con mà đã giữ giải cả buổi. Nhiều đô vật to lớn vào đấu, chỉ vì sơ ý chủ quan đã bị đối phương bất thình lình đội nhấc lên khỏi mặt đất hoặc do quá ham húc, cày, đẩy nên đã bị đối phương lừa thế quay ngoắt lại tránh đòn, thuận đà liền đẩy theo cho ngã xõng xoài ra khỏi vòng chiến. Đành cay đắng, ngậm ngùi lóp ngóp bò dậy chịu thua trong tiếng trống cắc, tùng chua chát và tiếng cười chọc ghẹo của đám đông, nhất là của phái nữ.

Rõ ràng là muốn dành chiến thắng ở đây không chỉ cần sức mạnh mà phải có cả trí và dũng. Vì vậy, hội vật ở làng Hà có rất nhiều pha bất ngờ và thích thú như gầy thắng béo, nhỏ thắng to, bé thắng lớn. Đặc biệt là người nào đấu vật ở đây không nhất thiết phải đóng khố cởi trần. Vì thế đã từng có những bậc nữ cao thủ ăn mặc giả trai vào đấu tranh giải. Chỉ sau chiến thắng giòn giã bậc mày râu, vị tướng đó mới chịu lột khăn để lộ mái tóc mây óng ả vứi mắt phượng mày ngài, rồi nàng từ tốn xin nhường giải lại cho các đấng nam nhi bởi lượng sức nữ nhi khó mà giữ giải được lâu. Đến lúc này thì cả đám hội đều ngớ ra rồi suýt xoa phục tài và tiếc rẻ!Hội vật làng Hà nhờ vậy mà càng trở nên hấp dẫn người xem đến say mê quên cả về ăn cơm trưa, cơm chiều mặc dù bụng đói cồn cào.

Từ nhiều đời nay, người dân quanh vùng còn kể cho nhau nghe về trận tranh hùng giữa hai đô vật nổi tiếng bởi dự bất ngờ đến khó tin. Đó là đô Đình có vẻ già yếu như trói gà không chặt đã thắng giòn giã đô Ba Trại rất cường tráng, oai phong lẫm liệt chỉ trong vòng thời gian đánh xong ba hồi trống trận. Lại có nhiều cuộc chưa đấu đã thắng bởi đối thủ biết cách diễu võ dương oai. Trước khi vào xới, anh ta còn nhẩn nha bước lên nhỏ cột cờ nhẹ tựa lông hồng, vươn tay bóp vỡ ống tre kêu rôm rốp hoặc nâng cao cối đá lỗ nặng trịch…mà vẻ mặt vẫn thản nhiên không hề biến sắc, khiến các đối thủ nhìn thấy thế đã phát hoảng đành lắc đầu lè lưỡi xin vái tạ và tự rút lui không dám vào vuốt râu hùm! Điều đó cũng đủ nói lên rằng các đô vật đã đứng vững trên các võ đài quả thật có sức khỏe đáng phải kính nể.

Hội vật ở làng Hà  - Vĩnh Phúc
Hội vật ở làng Hà  – Vĩnh Phúc

Với cách đấu và thách đấu như vậy, hội vật làng Hà bao giờ cũng chỉ mở trong một ngày mà vẫn thành công. Cuối ngày đều tìm được chủ nhân của chức vô địch – một người xứng đáng để trao giải thưởng.

Lễ trao giải ở đây cũng thật độc đáo. Một vị trưởng lão mặc kễ phục đi trước cầm bó hương theo sau là cô gái trẻ đẹp nhất làng đội mâm xôi có một chân giò lợn lớn và một vò rượu tăm đem đến tận nguyên quán của nhà vô địch để làm lễ gia tiên và kính cáo với dân làng sở tại, nơi đã sinh ra một thiên tài làm rạng rỡ truyền thống thượng võ của quê hương. Giải thưởng chỉ có vậy thôi nhưng ý nghĩa thật sâu xa. Chỉ những dân tộc có truyền thống thượng võ lâu đời mới có được những hội vui như vậy!

Hội vật ở làng Hà ngày nay vẫn được mở vào ngày mùng bảy tháng giêng hàng năm. Nhưng lề lối và truyền thống xưa đã được thay bằng nhiều kiểu cách vật hiện đại theo từng hạng cân với thể thức đấu loại vòng tròn và phần thưởng là những gói tiền lớn. Tuy vậy, hội vẫn không hấp dẫn và đông vui như hội vật ngày xưa.

9 Hội đánh cờ  – Vĩnh Phúc

Hội đánh cờ diễn ra từ ngày 10-14/9 dương lịch tại làng Bích Đại và Đồng Vệ, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Đánh cờ tướng là trò chơi dân gian không chỉ đơn thuần để giải trí mà còn thể hiện tinh thần thể thao, trí tuệ, trách nhiệm của người cầm quân. Hội đánh cờ mang đậm bản sắc dân tộc Việt.

Hội đánh cờ  - Vĩnh Phúc
Hội đánh cờ  – Vĩnh Phúc

Không giống như không khí nhộn nhịp, tưng bừng của những môn thể thao khác như bóng đá, đấu vật hay bóng chuyền, hội đánh cờ thường thu hút đông đảo người xem nhưng khán giả đều cố gắng giữ im lặng để người chơi tập trung, không bị phân tán tư tưởng.

Trước khi những ván đấu cờ diễn ra là nghi thức làm lễ. Từ sáng ngày 9/9 tiến hành lễ mở cửa làm vệ sinh, phong y. 16h chiều làm lễ cáo tiệc, đến 19h làm lễ trực đêm.

Ngày 10/9, dân làng tổ chức lễ vào tiệc ở miếu. 12h, các vị cao niên trong làng cùng các chân cờ, chân kiệu tập trung ở đình Bích Đại lên miếu Đồng Vệ đón kiệu. 13h, khởi kiệu rước xuống đình Bích Đại tế tiệc. Kiệu thờ được ở lại đình Bích Đại một đêm. Buổi tối, dân làng tổ chức hát ca trù mừng thánh trong đình, hát chèo ngoài sân đình.

Sáng ngày 11/9, đoàn rước tập trung ở miếu từ 7h30 xuống đình đón kiệu Thánh, tiến hành rước kiệu từ đình lên miếu.

Từ ngày 12/9, các ván đấu cờ người chính thức bắt đầu. Quân cờ là các nam thanh, nữ tú trong làng. Kiệu Thánh và bài vị Thánh được ngự ở gian tiền tế, hướng ra sân miếu. Mở đầu, một số nam nữ đại diện cho hai bên quân theo đoàn nhạc trống, kèn chạy một vòng sân, rồi tiến vào giữa sân làm lễ trình thánh. Mở đầu hội cờ làng, hai vị bô lão cao cờ vào đấu khai mạc. Những đấu thủ khi vào giao đấu và đến khi kết thúc ván đầu đều phải vào miếu làm lễ trình Thánh.

Hội đánh cờ Vĩnh Phúc hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia. Đây là môn thi đấu đòi hỏi tính chiến thuật rất cao, đôi khi chỉ đi sai một nước có thể thay đổi cục diện cả bàn cờ. Hội đánh cờ là dịp để người chơi được sống lại với những trận chiến oanh liệt trong lịch sử với niềm tự hào về những chiến công hiển hách của dân tộc.

10 Lễ hội Lồng Tồng của người Cao Lan  – Vĩnh Phúc

Hàng năm vào ngày 15, 16 tháng Giêng, đồng bào dân tộc Cao Lan thôn Mới, xã Quang Yên, huyện Sông Lô (Vĩnh Phúc) lại tổ chức lễ hội Lồng Tồng ( xuống đồng) nhằm ôn lại giá trị văn hóa, đồng thời tạo không khí vui tươi phấn khởi cho đông đảo quần chúng nhân dân.

Lễ hội Lồng Tồng của người Cao Lan  - Vĩnh Phúc
Lễ hội Lồng Tồng của người Cao Lan  – Vĩnh Phúc

Lễ hội xuống đồng là nét sinh hoạt văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc Cao Lan được tổ chức thường niên và coi đây là một hoạt động vui chơi giải trí đầu xuân và động viên đồng bào bảo tồn văn hóa của dân tộc, đồng thời động viên đồng bào dân tộc sản xuất và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

Hội xuống đồng là một lễ hội cầu mùa, cầu mong cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, cầu cho người người khỏe mạnh, sinh nhiều con cháu. Lễ hội xuống đồng còn là tín ngưỡng phồn thực mang nhiều giá trị về dân tộc học, nhân văn, nghệ thuật… Sau phần lễ, phần hội đã diễn ra nhiều trò chơi dân gian lý thú như: múa, hát ví xịnh ca, hát đối giao duyên của dân tộc, ném còn, bắn nỏ, kéo co, chọi gà thu hút đông đảo đồng bào dân tộc tham gia…

Lễ hội xuống đồng truyền thống đã có từ hàng trăm năm nay nhưng đã bị gián đoạn từ lâu. Năm 2007, Bộ Văn hóa Thông tin (nay Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) phối hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc, UBND xã Quang Yên đã khôi phục lại lễ hội này.

11 Lễ hội Đình Cả của 5 làng Tích Sơn – Vĩnh Phúc

Xã Tích Sơn nay thuộc phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên.Trong một năm Đình Cả có nhiều ngày lễ. Riêng ngày mồng Ba tháng Giêng làng tồ chức lễ hội Thảo tặc khao binh, một tiệc lệ lớn tái hiện khí thế ra trận giết giặc mùa xuân năm Mậu Ngọ (1258). Lễ hội này được tổ chức tại đình Cả Tích Sơn chung cho 5 làng nên gọi là lễ hội Đình Cả 5 làng Tích Sơn.

Lễ hội Đình Cả của 5 làng Tích Sơn - Vĩnh Phúc
Lễ hội Đình Cả của 5 làng Tích Sơn – Vĩnh Phúc

Tương truyền đầu đời Trần, 7 anh em họ Lỗ đều đã giữ chức “điển bình” trong quân đội triều đình, cùng nhau coi giữ trong động Đinh Sơn (núi Đanh) và các xã xung quanh. Tháng Chạp năm nguyên phong thứ 7 đời vua Trần Thái Tông (1257), quân Nguyên Mông xâm lược Đại Việt. Vua Trần xuất quân đánh giặc, 7 anh em họ Lỗ theo nhà vua ra trận.Sau khi đất nước thanh bình, 7 vị trở về quê, làng Bồ Lí ngày nay. Trên đường về tới núi Đanh thì hóa. Mộ táng ở dưới chân núi. Nhân dân tưởng nhớ 7 anh em họ Lỗ lập đền thờ, trong đó đình Cả Tích Sơn là nơi thờ chính.

Ngày mồng 2 Tết Nguyên đán, từ sáng sớm, tất cả dân làng và cậu trai đinh đã tế tựu đầy đủ ở sân chùa Ngũ Phúc (chùa chung của 5 làng thuộc xã Tích Sơn) làm lễ “tụ quân”, tức là tập hợp quân số của 2 giáp để vào tiệc. Các trai đinh vào phe được gọi là “quân” của thất vi Lỗ Đinh Sơn (bảng vị thần họ Lỗ trên núi Đanh), và chỉ những người này mới được vào “làm tiệc” – các công việc về tiệc không có nữ tham gia.

Đêm ngày mồng 2 “quân” của hai giáp vào làm lễ thánh và được ăn uống. Quân đang ăn dở dang, thì có pháo lệnh nổ, lệnh báo động trong quân. Quân 2 giáp chạy về điểm tụ quân. Quân giáp phía đông tụ ở đình Chợ. Quân giáp phía tây tụ ở cầu Giáp Lão. Đến đầu giờ Hợi (21 giờ) mới tiến về nhà nuôi lễ ở đình Cả nghỉ ngơi.

Vào tiệc, giữa giờ Hợi (10 giờ tối) là khi sắp sửa ăn đêm thì có tiếng reo hò. Quân bỏ bữa ăn, đốt đuốc xông thẳng vào “chuồng lễ”, phá “chuồng lễ”, đuổi bắt “ông lễ” (lợn lễ) trói lại, khiêng ra đình. Theo lễ định, ai bắt được “ông lễ” sẽ khiêng đầu đòn thứ nhất (đi trước), đầu kia (đi sau) giành cho 1 người quân làm tiệc. Có 2 “ông lễ” của hai giáp. Lễ của giáp nào do quân giáp ấy bắt và đặt riêng theo giáp ấy. Lễ của giáp Đông đặt ở phía đông cửa thần điện. Lễ của giáp Tây đặt ở phía tây cửa thần điện. Vị chủ lễ vào “xin chân keo” xin âm dương 4 lần.

Sau các lễ cầu, “quân” được nghỉ ngơi, ăn “Cỗ bàn đọi” chờ sang canh , “Cỗ bàn đọi” là cơm của quân sĩ: cơm nắm. muối vừng.

Tiệc lệ ngày mồng Ba: Tiến trình tồ chức lễ bắt đầu từ nửa đêm.

Chủ lễ vào lễ thánh, xin phép làm tiệc. Hai thủ dịch vác long đao tiến ra đứng trước 2 “ông lễ” diễn động tác chém vào cổ lợn. Ngay lập tức, tiếng reo hò nổi lên; chức việc của 2 giáp xông vào cắt đầu lợn, mổ lợn làm cỗ “sinh huyết” (máu tươi). “sinh nhục” (thịt sống) cho giáp mình để hiến lễ. Về cỗ, có 2 loại: Thứ nhất là cỗ thủ đê dâng lên đình Cả; Thứ hai là cỗ vọng tướng dâng lên miếu tướng. Tế cờ: là phần kết thúc của lễ tiệc “thảo tặc khao binh”.

Trước cửa đình, “quân” của giáp nào xếp hàng theo giáp ấy. Giáp Đông đứng về bên đông. Giáp Tây đứng về bên tây. Thủ dịch của 2 giáp bưng hương án, che lọng, ban sửa cầm cờ, khiêng trống, chiêng từ trong đình tiến ra trước một ban thở ở góc phía bắc của sân đình, gợi là mô cờ. Ban thờ hướng về phía làng Bồ Lí. “Quân” của 2 giáp ào ào chạy ra mô cơ, đứng bái vọng về quê hương của 7 vị là làng Bồ Lí, nay là xã Bồ Lí (huyện Tam Đảo).

Sau mục tế cờ là “Duệ thằng”: quân 2 giáp kéo vào trước cửa đình thực hiện cuộc kéo co, gọi là “Sỏ giải”. Đến đây kết thúc lễ hội. Đặc điểm của lễ hội này là phần lễ không có rước kiệu, không có lễ tế. Vị chủ lễ chỉ “xin chân keo” để chuyển các thứ mục của lễ hội.

Phần cuối cùng của lễ hội này là phần ăn uống gọi là “tán cỗ”. Tán cỗ là chế biến các đồ lễ sống thành cỗ nấu chín để “thụ lộc”. Công việc này do ban “lâm thời” đảm nhiệm. Đồ nấu chín được chia thành các mâm. Mỗi mâm cỗ có. các thành phần: 1 mô xôi nếp; 1 mô thịt luộc chín; 1 mô cơm xén thành khuôn; Cỗ ngồi 3 người theo từng bàn của 2 dõng trong 2 giáp đông và tây.

12 Lễ hội chọi trâu  – Vĩnh Phúc

Trong rất nhiều lễ hội văn hóa nước ta lễ hội chọi trâu là nghi lễ đặc biệt của bà con nông dân trong dịp đầu năm. Hàng năm vào hai ngày 16 và 17 tháng Giêng âm lịch người dân xã Hải Lưu huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc lại tưng bừng mở lễ hội chọi trâu cầu cho mưa thuận gió hòa, một vụ mùa bội thu. Đây là một trong những lễ hội văn hóa dân gian đậm đà bản sắc dân tộc. Bởi nó biểu trưng cho tính cộng đồng và đặc biệt hơn gợi nhớ về cội nguồi cũng như giáo dục tình yêu quê hương sâu sắc.

Lễ hội chọi trâu  - Vĩnh Phúc
Lễ hội chọi trâu  – Vĩnh Phúc

Việc chuẩn bị lễ hội được diễn ra từ nhiều ngày trước đó, trước đêm lễ hội là lễ tế Thàng hoàng làng, nét tưng bừng nhộn nhịp hòa cùng những chén rượu nhỏ, lời ca tiếng hát và những câu chuyện dự tính làm ăn trong dịp năm mới. Khi trời rạng sáng mọi người cùng chuẩn bị cho trâu vào xới chọi ngày mai. Tất cả đều vui vẻ và bình dị như chính con người nơi đây.

Tùy vào từng năm mà số lượng trâu nhiều hay ít. Trâu được chọn phải đáp ứng những tiêu chuẩn như: ngoại hình đẹp, cân đối, lông màu đen, da trê… Trước vài ngày thi đấu trâu được chăm sóc rất chu đáo. Nét đặc biệt so với nhiều lễ hội chọi trâu khác chính là trâu không phải được nuôi theo cá nhân và được các tập thể cùng tham gia nuôi dưỡng và chăm sóc. Chính nét đặc sắc này khiến bà con nông dân trong vùng thêm gần gũi và thân thiết với nhau hơn.

Thường thì lễ hội chọi trâu được diễn ra ba vòng, mỗi vòng sẽ chọn ra những con trâu khỏe nhất, đẹp và “duyên dáng”. Những chú trâu được rèn luyện kĩ lưỡng, béo tốt và tràn đầy sinh lực trước khi bước vào thi đấu. Tiếng chiêng trống, tiếng hò hét bên ngoài làm tăng thêm khí thế chiến đấu của những chú trâu đầy hiếu chiến. Trâu chọi bao giờ cũng có đôi sừng dài và to, đấu nhau và lối đối mặt dùng sừng, những thế tấn công của cặp trâu thi đấu sôi nổi, hấp dẫn và nhận được rất nhiều sự cổ vũ của mọi người.

Kết thúc lễ hội bất kể trâu thắng hay trâu thua đều được đem giết thịt, liên hoan tập thể và mời những du khách phương xa tham dự ly rượu thịt trâu đầu năm. Mọi người cùng thưởng thức miếng thịt trâu thơm ngon và cùng nhau bàn luận sôi nổi, vui vẻ với những pha gay cấn đã diễn ra trong cuộc thi.

Nếu ai đã từng đến lễ hội chọi trâu Vĩnh Phúc một lần, hòa chung niềm vui đầu năm với những người dân nơi đây, cùng sống trong không khí sôi động này thì hẳn sẽ nhớ mãi một lễ hội đặc sắc mang đậm nét riêng thổi hồn vào truyền thống dân tộc.

13 Lễ hội rước cây bông  – Vĩnh Phúc

Mỗi dịp xuân về, người dân xã làng Thượng Yên – Đồng Thịnh – Sông Lô- tỉnh Vĩnh Phúc lại tưng bừng mở hội Rước cây bông. Mỗi năm, một làng sẽ được vinh dự rước cây bông tại đền Thượng.

Lễ hội rước cây bông  - Vĩnh Phúc
Lễ hội rước cây bông  – Vĩnh Phúc

Làng Thượng Yên trước kia có tên gọi là Kẻ Nộc, còn được gọi là làng Thượng Phan, cái tên Thượng Yên là gắn với địa danh đền Thượng, nơi thờ đức thánh Tản Viên Sơn. Ngày nay, làng Thượng Yên được đổi thành 5 thôn: Yên Thái, Yên Phú, Thượng Yên, Bằng Phí, Yên Bình, thuộc xã Đồng Tĩnh, huyện Sông Lô. Đây là vùng đất nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa nước. Cũng vì là vùng thuần nông nên có nhiều yếu tố thiên nhiên ảnh hưởng đến mùa vụ củ nông dân. Chính vì thế, người dân đã tổ chức lễ hội để cầu mong thiên địa và thánh thần phù hộ cho mùa màng bội thu.

Đi đầu đoàn rước là “người cầm trịch” – thường là người có uy tín trong làng, theo sau là cờ thần, múa sinh tiền, phường bát âm, tiếp đến là kiệu lễ, và sau nữ là ba cây bông lúa, bông đỗ, bông vải. Người dân trong xã cùng du khách khắp nơi chen chân nhau theo đoàn rước.

Khi đoàn rước tiến về sân đến Thượng, lễ hội cũng chính thức bắt đầu. Sau khi các vị tiền bối của làng đọc xong văn tế cây bông, chủ tế sẽ báo hiệu nghi thức cướp bông. Đây cũng chính là phần hấp dẫn và kịch tính nhất của Lễ hội cướp cây bông. Khi tiếng chiêng, tiếng trống vang lên từng hồi, đoàn người cũng chen nhau rút bông. Ai không lấy được bông thì cũng mong chạm được vào cây bông để lấy may.

Người đã lấy được bông sẽ mang về, đặt lên bàn thờ gia tiên. Theo quan niệm dân gian, nếu ai cướp được cây bông này thì chỉ cần chạm tay vào linh vật thì cả năm sẽ làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn.

Lễ hội rước cây bông diễn ra trong không khí náo nhiệt. Đây là lễ hội mang tính nhân văn, để đề cao đạo lý uống nước nhớ nguồn. Lễ hội đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người xem hội. Là nét văn hóa thu hút du khách thập phương đến địa phương du xuân.

14 Lễ hội khai xuân Khánh Hạ  – Vĩnh Phúc

Lễ hội khai xuân Khánh Hạ tại Vĩnh Phúc diễn ra hàng năm vào ngày mồng 9 tháng Giêng âm lịch. Đây là ngày hội của 3 làng Mậu Thông, Mậu Lâm và Vĩnh Thịnh thuộc phường Khai Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc.

Lễ hội khai xuân Khánh Hạ  - Vĩnh Phúc
Lễ hội khai xuân Khánh Hạ  – Vĩnh Phúc

Trong ngày hội, lễ rước kiệu sẽ bắt đầu từ làng Mậu Thông đến điện Linh Tiêu (Sau này đổi tên là chùa Phú Cung), còn được gọi là chùa Phú. Phần hội diễn ra độc đáo với màn trình diễn tích trò Tứ dân (Sỹ, Nông, Công, Cổ) còn được gọi là Tứ phú nhân lương- đây là một trò diễn dân gian thú vị, thể hiện niềm ước mong có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, yên bình của người dân.

Đoàn rước diễn có 26 người trong thành phần đoàn: một người cầm trống, một người cầm chiêng, bốn người cầm bảng “tứ hình”, sư, vãi, thầy cô, người cày, quốc, gắt, súc tôm, ếch, thợ mộc, học trò, lái buôn. Khi biểu diễn thường đeo mặt nạ thường được dán bằng giấy bản hoặc mo cau. Trang phục thường được chọn theo màu sắc hoặc tùy theo nghề nghiệp. Nam đóng giả nữ. Trâu bò chỉ có mô phỏng phần đầu.

Các nhóm trò biểu diễn sẽ mô phỏng lại cách sinh hoạt xã hội nông nghiệp thời xưa của các ngành nghề như: nông phu đi cầy cấy, câu ếch, xúc tép, thương nhân đi buôn bán, thầy đồ dạy học, thợ mộc đục bào… Các dụng cụ được cầm ngược kèm theo các động tác ngộ nghĩnh gây cười. Trò diễn diễn ra rất hấp dẫn, đem lại tiếng cười vui vẻ cho người xem hội.

Lễ hội khai xuân Khánh Hạ tại Vĩnh Phúc là một nét đẹp trong văn hóa của người dân ba làng Mậu Thông, Mậu Lâm và Vĩnh Thịnh. Lễ hội đã tái diễn lại cuộc sống hằng ngày của người dân lao động. Qua lễ hội này, người dân cũng có cơ hội giới thiệu về nét đẹp của quê hương mình.

15 Hội Xuân làng Thổ Tang  – Vĩnh Phúc

Hội Xuân làng Thổ Tang ở Vĩnh Phúc thường tổ chức hàng năm tại làng Địa Tang, thuộc địa phận huyện Vĩnh Tường. Lễ hội diễn ra từ ngày 14 đến 23 tháng Giêng âm lịch.

Hội Xuân làng Thổ Tang  - Vĩnh Phúc
Hội Xuân làng Thổ Tang  – Vĩnh Phúc

Đối tượng được người dân làng Địa Tang suy tôn là Thần Đất (Nuôi Ná), Phùng Thị Dung tiên nương, Lâu Hổ Hầu là người đã có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Tục truyền, Lâu Hổ Hầu chính là người đã hóa đất Thổ Tang. Để tướng nhớ tới công ơn của người xưa, hàng năm cứ đến ngày 14 tháng Giêng âm lịch, người dân lại từng bừng mở hội để rước thần về dự hội.

Nơi đây là vùng trung du đẹp tươi với phong cảnh hùng vĩ, phía Tây và phía Đông có những ngọn đồi lớn, cây cối tươi tốt, lại còn có một con ngòi ôm ấp cánh bãi ven làng. Trong làng, đường xá được lát gạch sạch sẽ, nhà ngói san sát nhau. Cũng như nhiều ngôi làng ở miền Bắc, làng Thổ Tang thường mở hội mừng xuân. Lễ hội Xuân làng Thổ Tang thường được bắt đầu từ ngày 14 và kết thúc vào ngày 24 tháng Giêng âm lịch.

Hội Xuân của làng Thổ Tang thường bắt đầu bằng cuộ rước từ miếu Trúc về đình làng theo nghi lễ truyền thống. Trong lễ tế Thành Hoàng và lễ cúng Thần Hổ, lễ vật được chuẩn bị bao giờ cũng có các ông Đô. Ông Đô chính là một con lợn được làng nuôi. Ông Đô yêu cầu thân phải dài, đen tuyền, béo mập. Tục làng không chấp nhận lợn bị lang nên ông Đô dù có đẹp đến mấy nhưng có lẫn sợi lông trắng đều bị loại. Khi mổ thịt cúng thần, làng phải chọn trai tân là người chọc tiết. Ngoài phần thịt để dâng lên thần, thịt các ông Đô sẽ được chia cho các giáp trong làng.

Việc chọn các Ông Đô là một tục lệ khuyến khích việc chăn nuôi tại làng Thổ Tang. Trên thực tế, người dân quanh vùng đều công nhận người dân làng Thổ Tang rất giỏi chăn nuôi. Đặc biệt, người làng Thổ Tang có nhiều kinh nghiệm trong việc chọn giống và chăn nuôi lợn. Ngoài trồng trọt, nuôi lợn cũng là một nghề mang lại nguồn thu cho người Thổ Tang ở Vĩnh Phúc.

16 Lễ hội đền Ngự Dội  – Vĩnh Phúc

Lễ hội đền Ngự Dội được tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng hàng năm, tại xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường. Nếu như lễ hội đền Và là một trong các lễ hội to và đông vui nhất ở thị xã Sơn Tây thì lễ hội đền Ngự Dội cũng đã được xác định là lễ hội vùng của huyện Vĩnh Tường. Người dự hội có thể thấy ở lễ hội đắc sắc này sự hội tụ sức mạnh cộng đồng và gửi gắm khát vọng về hòa bình, no ấm của người dân vùng đất bãi ven sông trong suốt dọc dài lịch sử.

Lễ hội đền Ngự Dội  - Vĩnh Phúc
Lễ hội đền Ngự Dội  – Vĩnh Phúc

Được xây dựng từ năm 603 trên cánh bãi La Phiên xưa, nay là xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường, đền Ngự Dội đã chứng kiến bao mùa đổi dòng thay hướng của sông Hồng mỗi mùa con nước. Đền được lập nên để lưu giữ dấu linh của Đức thành Tản Viên trên mảnh đất Vĩnh Ninh, gắn với huyền tích hai cô thôn nữ nhờ phép màu của Đức Thánh đã dùng sọt gánh cỏ mà gánh được nước sông Hồng dâng lên để Đức Ngài gột tẩy bụi trường chinh, trước khi Ngài về hóa Thánh trên đỉnh non Tản. Qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, đền Ngự dội xưa không còn nữa. Năm 1989, đền bắt đầu được khởi công tôn tạo và bảo tồn cho đến ngày nay.

Lễ hội đền Ngự Dội được tổ chức vào rằm tháng giêng, thường diễn ra trong 4 ngày. Đặc biệt, vào các năm: Tý, Ngọ, Mão, Dậu, được gọi là năm đại lễ, 8 làng: Vân Gia, Thanh Trì, Nghĩa Phủ, Mai Trai, Đạm Trai thuộc xã Trung Hưng; Phù Sa, Phú Nhi thuộc xã Viên Sơn, thị xã Sơn Tây, Hà Nội và làng Duy Bình thuộc xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường cùng nhau tổ chức một cuộc rước lớn: rước kiệu Thánh từ đền Và thuộc xã Trung Hưng sang đền Ngự Dội.

Đây là nghi thức hoành tráng và đặc sắc nhất của lễ hội đền Ngự Dội bên cạnh các nghi lễ trang trọng, thiêng liêng khác như: tổ chức rước nước tại Sông Hồng, cử hành lễ mộc dục, lễ tiến đốn và lế tế, tổ chức tiệc làng Duy Bình…

Lễ rước ngai Thánh đi trong đêm vào lúc 2 giờ sáng. Từ đền Và, đám rước đi qua cầu Cộng, vào thị xã Sơn Tây, ra bến sông rồi xuống thuyền qua sông Hồng sang địa phận xã Vĩnh Ninh, Vĩnh Tường. Những người chở đò ăn mặc quần áo lễ hội và chở khách thập phương qua sông đều không lấy tiền. Gần chục chiếc thuyền lớn được cột với nhau và trải tre vầu phẳng phiu để ngự kiệu và chở người hành lễ. Có đến hàng nghìn người theo thuyền chở ngai Thánh Tản sang sông cùng các thuyền nan hộ tống, còn đoàn rước thì reo hò, khua chiêng, gõ trống và ca hát làm náo động cả một khúc sông rộng. Tiếng cười nói hân hoan lan toả làm nức lòng người theo hầu Thánh Tản sang sông. Ở bên này bờ, kiệu thánh của đền Ngự Dội đã đợi sẵn cùng hàng trăm người dân và khách thập phương náo nức đợi rước Thánh về.

Khi thuyền rước kiệu Thánh từ đền Và cập bờ, lá cờ ở đầu kiệu phất về phía bờ bắc sông Hồng, ấy là lúc cả khúc sông dậy lên tiếng hò reo hân hoan cùng tiếng bước chân chạy rầm rập; người dự hội ùa ra đón kiệu Thánh với tất cả lòng tôn kính, ngưỡng mộ. Người thành kính chiêm bái, người chen chúc để được chui dưới gầm kiệu, cầu cho mình một năm mới khỏe mạnh và bình an.

Đoàn rước xếp thành cả một dãy dài với 8 kiệu, cờ phướn rợp trời. Đoàn rước kiệu đi trong không khí tưng bừng, náo nhiệt. Hương trầm ngạt ngào, trống hội âm vang cùng với tiếng nhạc xênh tiền uyển chuyển khiến cho lễ hội vừa mang tính linh thiêng mà cũng rất gần gũi, đời thường. Khi đoàn rước về tới đền Ngự Dội, ấy là lúc diễn ra lễ khai hội cùng lễ tiến đốn và lế tế. Nhân dân 2 bên bờ sông Hồng cùng hòa chung trong không khí linh thiêng của lễ hội, hòa vào các trò chơi dân gian đang làm mê mẩn các vị khách hành hương… Cho đến khi lá cờ ở cổng đền phất về phía sông Hồng, đoàn người lại cùng nhau rước kiệu Thánh trở về đền Và ở bên kia sông.

17 Lễ hội đả cầu cướp phết  – Vĩnh Phúc

Tên của lễ hội đã thể hiện không khí sôi động của lễ hội, thật độc đáo, đặc sắc của cư dân Lập Thạch bên bờ sông Phó Đáy… Lễ hội Đả cầu cướp phết diễn ra vào ngày 7 tháng Giêng tại đền Đông Lai xã Bàn Giản, nhằm tưởng nhớ về một thời Vua Hùng, nhân dân đã giữ đất, trấn ải, luyện quân đánh giặc giữ nước như thế nào.

Lễ hội đả cầu cướp phết  - Vĩnh Phúc
Lễ hội đả cầu cướp phết  – Vĩnh Phúc

Sau nghi thức tế lễ Thành hoàng, phần hội tiếp theo diễn ra khá sôi động với những trò chơi như bóng chuyền, cờ tướng, giã bánh Dầy, đu tiên, bịt mắt bắt dê… và hấp dẫn nhất vẫn là trò đả cầu cướp phết. Đả cầu (cướp cầu), các trai đinh cởi trần cướp cầu bằng tay (cầu bằng gỗ tốt, đường kính 35cm)- biểu tượng bộ binh. Cướp phết (phết được làm bằng tre dài 1,3m, phần gốc cong, đẽo gọt phần đầu ngựa, long mã)- biểu tượng kỵ binh…đuổi theo bổ và ngoặc lại quả cầu. Lễ hội diễn ra quyết liệt thể hiện tinh thần thượng võ của cha ông xưa, chứng tỏ tính sáng tạo có giá trị nghệ thuật của cư dân vùng này.

Lễ hội đả cầu cướp phết tại Bàn Giản có một lịch sử khá dài lâu, là nét văn hóa độc đáo của một làng quê miền sơn cước. Người xưa đã biết thông qua một lễ thức mang tính tôn giáo để lồng vào đó ý thức đoàn kết, rèn đức, luyện tài, bên cạnh đó còn chủ ý hướng thiện với việc cầu cho mưa thuận, gió hòa, nhà nhà yên vui, người người hạnh phúc… Đây quả là một triết lý nhân văn sâu sắc, góp phần đem lại niềm tin và sức sống cho cộng đồng trải qua bao thế hệ…

18 Lễ hội Tây Thiên – Vĩnh Phúc

Thường được tổ chức vào 3 tháng khi mùa Xuân đang sắp rục rịch chuyển giao cho mùa hạ, ngày diễn ra chính thức của hội là ngày 15 tháng 2 âm lịch hàng năm tại Khu Di tích danh thắng Tây Thiên, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo. Lễ hội Tây Thiên là lễ hội lớn nhất của Vĩnh Phúc được tổ chức ba ngày với phần tế lễ và hội với nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: thi hát dân ca của người dân tộc thiểu số Sán Dìu, thi nấu cơm, thi hú đáo, làm bánh chưng, bánh dày, kéo co, chọi gà.

Lễ hội Tây Thiên - Vĩnh Phúc
Lễ hội Tây Thiên – Vĩnh Phúc

Đến tham gia lễ hội, du khách có dịp tìm hiểu về Tây Thiên – nơi thờ Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu, người được Hùng Chiêu Vương thứ 7 lập làm Chính Vương Phi, có công giúp vua dẹp giặc, mở mang bờ cõi, thống nhất giang sơn, dạy dân trồng lúa, giữ lửa trong buổi bình minh của dân tộc. Tưởng nhớ công đức của bà, nhân dân trong vùng lập đền thờ để hương khói hàng ngày. Lễ hội Tây Thiên là một phần quan trọng của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tín ngưỡng của nhân dân, nhằm tưởng nhớ công ơn và tỏ lòng thành kính đối với Quốc Mẫu Tây Thiên từ thuở hồng hoang.

Lễ hội Tây thiên được tổ chức hằng năm tại danh thắng Tây Thiên, thu hút du khách thập phương đến xem rất là đông, nghi lễ được tổ chức trang trọng, đặc sắc, mang đậm bản sắc của dân tộc.

19 Lễ hội đúc bụt ở Đồng Tĩnh

Hàng năm vào tháng Giêng – mùa lễ hội – cũng như bao làng quê khác, nhân dân thôn Phù Liễn – xã Đồng Tĩnh – huyện Tam Dương lại tổ chức lễ hội truyền thống: Hội “Đúc Bụt” để ôn lại một truyền tích đáng tự hào, mà ở trong tỉnh Vĩnh Phúc chỉ riêng làng Phù Liễn mới có lễ hội đặc biệt này.

Lễ hội đúc bụt ở Đồng Tĩnh
Lễ hội đúc bụt ở Đồng Tĩnh

Theo các cụ già ở địa phương kể lại, tương truyền lễ hội “Đúc Bụt” là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian đã có từ rất lâu, nhằm ôn lại quá trình chiêu mộ nghĩa sĩ, tập hợp lực lượng, rèn đúc vũ khí của Ngọc Kinh công chúa, một nữ tướng tài ba, chí dũng vẹn toàn, hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng đền nợ nước, trả thù nhà, diệt giặc Tô Định những năm 40 sau Công nguyên đã từng được ghi vào chính sử.

Truyện kể rằng Ngọc Kinh công chúa (Mỹ Tự được Vua Bà phong sau khi dẹp xong Tô Định, Trưng Trắc lên ngôi vua), nguyên là một phụ nữ tài đức vẹn toàn đã có chồng và hai người con trai, khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, Bà đã để các con ở lại quê, theo về với Hai Bà đánh giặc, được Hai Bà cử về quê Phù Liễn mộ quân, rèn đúc vũ khí, chuẩn bị lực lượng. Tại đây, Bà đã ẩn mình dưới dạng nhà sư, tu luyện tại chùa Phù Liễn, dạy cho dân biết làm sĩ, nông, công, cổ.

: là dạy dân học hành, nâng cao hiểu biết, bồi đúc lòng căm thù giặc Hán xâm lược.

Nông: là dạy dân cày cấy, trồng trọt, săn bắn làm ra sản phẩm chủ động nuôi sống người và cung cấp lương thực cho nghĩa sĩ.

Công: là nghề phụ trợ, ở đây là nghề rèn đúc sản xuất công cụ sản xuất và vũ khí đánh giặc.

Cổ: là cổ giả, nghĩa là sự lưu thông hàng hoá, đồng thời cũng là hình thức thông tin, dò la tin tức giặc…

Từ đó, Đức Bà đã dần xây dựng được lực lượng đông đảo, bao gồm những người dân Phù Liễn và các vùng xung quanh, cùng với 65 quận thành trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng giành độc lập.

Sau này, để tưởng nhớ công lao, nhân dân Phù Liễn đã lập Đền thờ Bà và quen gọi là Đền thờ Đức Bà lưu truyền đến ngày nay. Và hàng năm cứ đến ngày 8 tháng giêng (ngày hoá của Đức Bà), nhân dân lại tổ chức lễ hội diễn lại các tích trò xưa, và trong đó, tích trò “Đúc Bụt” được đặc biệt quan tâm và không thể thiếu trong ngày lễ hội.

Để chuẩn bị cho lễ hội, thường vào trung tuần tháng Chạp ta năm trước các quan viên, bộ lão trong làng đã họp bàn, quyết định tổ chức mở lễ hội, phân công công việc và chọn lựa những người trực tiếp tham gia, những người trực tiếp tham gia, những người được chọn lựa đều phải đạt các nghi lễ theo lệ làng, về cơ bản đó phải là những trai thanh, gái lịch hoặc người già phải gương mẫu, song toàn, gia đình ấm êm, hoà thuận, được hàng xóm mến phục tin yêu… Trong đó nghiêm ngặt nhất là bầu chọn ông chủ lễ, chủ trò và 3 thanh niên chọn làm Bụt.

Những người tham gia gồm:

Ông Chủ tế, 3 thanh niên khoẻ mạnh, chưa có vợ, gia đình song toàn, gương mẫu.

  • 1 ông thợ Đúc Bụt (cũng là người chủ trò) kèm theo có các công việc bổ củi, kéo bễ, nấu đồng, quạt lò, che lọng (mỗi công việc có 1 người thực hiện)
  • 1 vị sư và 5 bà vãi phục vụ
  • 1 ông giáo học (có tráp, bút kèm theo) và 5 học trò
  • Nghề nông có: 1 thợ cày, 1 thợ cấy, 1 người làm trâu kéo cày, 1 người phát bờ, 1 người cuốc góc, 1 người nhổ mạ, 1 người tát nước, 1 người câu ếch

Tất cả khoảng 30 người trực tiếp tham gia diễn trò. Các công việc chọn người, chuẩn bị đồ dùng, dụng cụ… được dân làng chuẩn bị kỹ càng, chu đáo từ trước tết Âm lịch để ăn tết xong cả làng sẽ vào hội.

Lễ hội đúc bụt ở Đồng Tĩnh
Lễ hội đúc bụt ở Đồng Tĩnh

Đúng ngày 8 tháng Giêng Âm lịch; ngay từ sáng sớm, tất cả người dân trong làng và các vùng xung quanh đã nô nức tập hợp về khu vực sân Đình làng, Ban tế làm lễ tế thân tại Đình, sau 3 tuần tế, ông Chủ tế xin âm dương và phân công quan viên đi Đúc Bụt, các quan viên cùng dân làng chuẩn bị xôi, trầu cau, chiếu.v.v… và những người đã được lựa chọn tham gia các tích trò Sĩ, nông, công, cổ nêu trên cùng 3 thanh niên đã lựa chọn kỹ tiến ra vùng ao (hoặc ruộng) đã tát cạn hết nước từ hôm trước (thông thường là ở gần bờ kênh Liễn Sơn, cách đình làng khoảng 500m) tới nơi, 3 thanh niên tự xuống ao, lấy bùn trát kín toàn thân, sau đó, quan viên sẽ dùng 1 sợi dây buộc ngang 1/3 (theo chiều rộng) một chiếc chiếu cói, rồi để xoè phần dưới chụp lên đầu mỗi Bụt một chiếc riêng “Bụt” đi giữa, trên đỉnh đầu, phần chiếu buộc phía trên có đặt một bó mạ xanh, sau đó quan viên và dân làng làm lễ rước “Bụt” về đình.

Thoạt tiên, sau khi chùm chiếu xong, các cụ phụ lão dùng trầu cau đã được chuẩn bị sẵn, bón cho mỗi “Bụt” một miếng, rồi cả đoàn người cùng ông Chủ lễ từ từ tiến về đình trong tiếng chiêng, trống, cờ xí và các điệu múa dân gian. Trên đường đi sẽ diễn ra tất cả 3 lần mời trầu do các tốp phụ lão khác nhau lần lượt bón cho “Bụt” thì cả đoàn rước mới về tới sân đình.

Khi đoàn rước “Bụt” về tới đình, ông Chủ tế sẽ làm thủ tục xin phép Thần Thành Hoàng, 3 “Bụt” sẽ chạy nhanh vào khoảng trống ở sân Đình đã được định sẵn, ngồi thành hàng ngang, quay mặt vào gian chính giữa cửa đình, xung quanh nhân dân quây thành một vòng tròn có đường kính khoảng 15m, đồng thời tất cả các tích trò đều được diễn ra ngay trong vòng tròn đó, trong tiếng chiêng trống, hò reo vui vẻ của cả biển người. Các trò được diễn ra như sau:

Lễ hội đúc bụt ở Đồng Tĩnh
Lễ hội đúc bụt ở Đồng Tĩnh

Những người làm ruộng, trâu kéo cày, người cầm cày chạy theo ngược với chiều kim đồng hồ, cùng các tốp thợ nhổ mạ, tát nước, phát bờ, cuốc góc, câu ếch… cùng vừa diễn động tác, vừa chạy theo người thợ cày.

Ở một góc, ông giáo học đang lên lớp giảng bài cho học sinh và tích trò trung tâm là ông chủ trò (vai người thợ Đúc Bụt) có thợ phụ trợ là bổ củi, quạt lò kéo bễ… để nấu đồng trong một chiếc nồi đất to (đường kính từ 0,60 – 0,8m), ông thợ đúc chân đi tập tễnh, thi thoảng lại bị thợ phụ đá cho một cái (nhằm gây cười); cũng như vậy anh thợ cuốc bờ thì để lưỡi cuốc ngoảng ra ngoài, người đi câu ếch làm phao bằng bông hoa đỏ, giỏ thủng đáy lại treo ngược lên… càng làm cho không khí vui nhộn hơn.

Trong quá trình diễn trò thi thoảng 3 “Bụt” ở giữa vòng tròn được 2 người phụ nữ đem xôi, trầu bón cho nhưng chỉ bón nhử mà thôi. (Phải chăng đây là một tục hèm của lễ “Cầu Đinh”). Khi các tích trò diễn ra liên tục khoảng 40-45 phút, nghĩa là nguyên liệu đồng trong nồi nấu đã đến nóng chảy, ông thợ đúc dùng gáo múc đồng trong nồi đổ vào các “Bụt” (chính xác hơn là các “khuôn Bụt”), sau đó dùng “kìm” (1 thanh tre tươi to bản bẻ gập) xoay Bụt (cho rời khỏi khuôn) cũng theo chiều ngược với chiều kim đồng hồ, đồng thời, nhà Sư xuất hiện gieo quẻ xin âm dương, khi được, ông thợ Đúc lập tức cầm 3 chiếc chiếu trùm lên “Bụt” ném ra ngoài và đập vỡ nồi nấu đồng. Đồng thời 3 thanh niên làm khuôn Bụt nhanh chóng chạy biến ra ngoài và kết thúc trò diễn, nhân dân reo hò tranh nhau cướp chiếu, 3 chiếc chiếu sẽ được cướp giật thực sự từ tay người này đến tay người khác, đến khi rách nát tả tơi, hoặc có người khoẻ mạnh hơn người, cướp được và tránh không để ai đuổi cướp lại được, nhất là chiếc chiếu giữa có bó mạ xanh ban đầu thì chắc chắn năm đó vợ chồng họ sẽ sinh con trai. Vì vậy Hội rất đông và cũng có nhiều người ở rất xa mà chưa sinh quý tử đến dự Hội hy vọng cướp được dù một mảnh chiếu rách là cũng đạt nguyện vọng. (Một điều lạ là mặc dù lễ hội năm nào cũng tổ chức, trong đám đông tranh cướp huyên náo như vậy nhưng chưa hề xảy ra thương tích!). Buổi chiều, các trò chơi phụ trợ được tổ chức đến tối gồm thi đấu bóng chuyền, cờ tướng…

Hy vọng với những lễ hội truyền thống đặc sắc, hấp dẫn ở Vĩnh Phúc mà chúng tôi chia sẻ trên đây sẽ giúp bạn giải đáp được thắc mắc ở Vĩnh Phúc có lễ hội gì rồi nhé. Hãy một lần ghé thăm nơi đây và cảm nhận không khí của những lễ hội tuyệt vời này. Chúc bạn có chuyến du lịch Vĩnh Phúc vui vẻ và trọn vẹn niềm vui.

5/5 - (2 bình chọn)

Trả lời

Your email address will not be published.